vanban.org

Bản án 145/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Hoàng Thị Hồng H. Bà Hoàng Thị Hồng H được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T.

Về con chung: Giao con chung Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020 cho ông Hoàng Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà Hoàng Thị Hồng H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Hồng H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Hoàng Thị Hồng H. Bà Hoàng Thị Hồng H được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:145/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 8 - 2023
“V/v tranh chấ p ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Phúc Tiếng

2. Ông Nguyễn Lập Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Muôn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 375/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023; giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hồng H– Sinh năm: 1999 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà N, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Ngọc T – Sinh năm: 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, đường P, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và tại bản tự khai nguyên đơn bà Hoàng Thị Hồng H khai:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Hồng H và ông Hoàng Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29 tháng 3 năm 2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận được một thời gian đầu thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà Hoàng Thị Hồng H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Hoàng Ngọc T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Bà Hoàng Thị Hồng H được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T.

Về con chung: Bà H xác định bà và ông T có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020 Bà H có nguyện vọng để hai cháu Bảo A và Bảo T cho ông Hoàng Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung ông T không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi con chung vì tôi chưa có công việc ổn định nên tôi không cấp dưỡng. Khi nào ông T có yêu cầu thì tôi cấp dưỡng sau.

Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị Hồng H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Hoàng Thị Hồng H khẳng định bà và ông T không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng bà.

* Bị đơn ông Hoàng Ngọc T khai:

Về quan hệ hôn nhân: ông T và bà Hoàng Thị Hồng H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29 tháng 3 năm 2018. Vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, năm 2019 ông T có quen một người phụ nữ khác bị bà H phát hiện dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Hiện tại ông T đã chấm dứt mối quan hệ với người phụ nữ khác và mong muốn quay về đoàn tụ với vợ con và không mong muốn ly hôn.

Về con chung: ông T và bà H có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020 . Nếu Tòa giải quyết ly hôn ông T có nguyện vọng nuôi cả hai cháu Bảo A và Bảo T cho đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì ông T làm nghề tự do và có nguồn thu nhập bình quân hàng tháng là 20.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Ông T và bà Hoàng Thị Hồng H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Hoàng Ngọc T khẳng định ông và bà H không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng bà.

Tòa án đã tiến hành hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ: Mặc dù ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, đã từ bỏ quyền lợi của mình. Do đó Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

* Đạ i diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm : Về việ c tuân theo phá p luậ t tố tụ ng củ a Hộ i đồ ng xé t xử tại phiên tòa là đả m bả o đú ng theo quy đị nh củ a pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Hoàng Thị Hồng H. Bà Hoàng Thị Hồng H được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T. Giao 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020 cho ông Hoàng Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tụ c tố tụ ng : Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Hoàng Thị Hồng H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Hoàng Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Hồng H yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn đối với ông Hoàng Ngọc T và nguyện vọng chăm sóc nuôi con chung. Yêu cầu giải quyết của đương sự là theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Qua bản tự khai, lời khai của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn đều thể hiện quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29 tháng 3 năm 2018. Nên xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị Hồng H và ông Hoàng Ngọc T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà H, ông T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông T sống không chung thủy có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Ông T và bà H đã sống ly thân, bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa. Nên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trầm trọng. Cuộc sống chung giữa hai bên không không thể tiếp tục duy trì hàn gắn, nên cần chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Hồng H.

Về con chung: Bà Hoàng Thị Hồng H với ông Hoàng Ngọc T có có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020. Bà H không có công việc và nguồn thu nhập ổn định nên có nguyện vọng để các con cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ông T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Để đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần của các cháu nên cần giao các Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020 cho ông Hoàng Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Hoàng Ngọc T không yêu cầu bà Hoàng Thị Hồng H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hoàng Thị Hồng H và ông Hoàng Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết là phù hợp.

Về án phí: Bà Hoàng Thị Hồng H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luậ t tố tụ ng Dân sự ;

- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1 và khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Hoàng Thị Hồng H. Bà Hoàng Thị Hồng H được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T.

Về con chung: Giao con chung Hoàng Ngọc Bảo A, sinh ngày 10/6/2018 và Hoàng Ngọc Bảo T, sinh ngày 24/5/2020 cho ông Hoàng Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Bà Hoàng Thị Hồng H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Hoàng Thị Hồng H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.

Về án phí: Bà Hoàng Thị Hồng H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2022/0001817 ngày 26 tháng 4 năm 2023.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ