- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:145/2022/HSST Ngày:10/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Hà Thị Thu Thủy.
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh.
2. Ông Nguyễn Hồng Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 10/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:147/2022/QĐXX-ST ngày 27/10/2022 đối với bị cáo:
Trần Mạnh T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1986 tại Phổ Yên; trú tại: Xóm 5, xã PT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá lớp: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Không xác định được bố mẹ đẻ là ai, ở đâu; mẹ nuôi là bà Trần Thị B; có vợ là Hoàng Thị Ph; vợ chồng bị cáo có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016).
Tiền án: Không
Tiền sự: Năm 2020, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 20 tháng (Quyết định số 08/2020/QĐ-TA ngày 12/02/2020 (chấp hành xong ngày 01/02/2022), chưa được xoá vi phạm.
Nhân thân: Năm 2005, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng (Quyết định số 2096/QĐ-UB ngày 07/10/2005, chấp hành xong ngày 30/8/2007).
Năm 2008, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 216/2008/HSST ngày 17/11/2008, chấp hành xong bản án ngày 31/01/2010).
Năm 2018, Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng (Quyết định số 04/QĐ-TA ngày 29/01/2018, chấp hành xong ngày 02/5/2019).
Năm 2020, Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức “Phạt tiền”(Quyết định số 0008222/QĐ-XPHC ngày 20/02/2020, chấp hành xong ngày 20/02/2020).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
*Người làm chứng: Anh Phạm Văn TH, sinh năm 1976; trú tại: Xóm ĐP, xã PT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt tại phiên toà);
*Người chứng kiến:
1. Ông Bùi Công C, sinh năm 1950;
2. Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1954;
Cùng trú tại: Xóm ĐP, xã PT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
3. Chị Trần Thị Q, sinh năm 1993;
Trú tại: Xóm ẤL, xã PT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
(anh T, ông C, ông H, chị Q đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 14/7/2022, tổ công tác của Công an xã PT, thành phố PY làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường 261 thì phát hiện một nam giới (sau xác định được là Trần Mạnh T ) có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép ma tuý ở phía trước cửa nhà ông Nguyễn Văn Q thuộc xóm ĐP, xã PT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T tự giác lấy từ trong túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc ra 01 (một) gói giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục được để trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng và từ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc ra 01 (một) gói giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục, giao nộp cho tổ công tác. Theo T khai toàn bộ số chất rắn màu trắng đục trên là ma túy loại HeroineT mua về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra,T còn lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 02 (hai) xi lanh nhựa đã qua sử dụng giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối vớiT, niêm phong vật chứng thu giữ được củaT.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn màu trắng đục thu giữ trong 02 (hai) gói giấy của Trần Mạnh T được 0,187 gam và 0,152 gam, tổng cộng là 0,339 gam, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu K1 và K2 gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine; khối lượng là: 0,187gam. Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu K2 gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine; khối lượng là: 0,152gam.
Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 05 giờ ngày 14/7/2022,T đi từ nhà đến nhà anh Phạm Văn TH ở xóm ĐP, xã PT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để xây hộ bờ tường rào. Khi đi T đem theo 250.000đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Đến khoảng 09 giờ cùng ngày,T nhờ anh TH chở T bằng xe mô tô đến khu vực phường BS, thành phố PY. Khi đi đến khu vực sân bóng trường Trung học cơ sở BS,T mượn xe mô tô của anh TH rồi đi đến khu vực trước cổng Trạm y tế phường BS để mua ma túy về sử dụng. Tại đây,T gặp một người nam giới tên theoT khai người này tên là H (T không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể của H, chỉ biết H nhà ở xóm L, xã MĐ, thành phố Phổ Yên).T cầm số tiền 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) đưa cho H thì H cầm tiền rồi đưa choT 01 (một) gói giấy bên trong có chứa ma túy loại Heroine. Sau khi mua được gói ma tuý T đi về, trên đường về T dừng lại rồi chia gói ma túy vừa mua được thành 02 (hai) gói nhỏ để sử dụng dần, một gói T cho vào bao thuốc lá Thăng Long để trong túi áo phía trước bên trái, một gói T để vào trong túi quần phía sau bên trái T đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô quay lại chỗ anh TH đợi rồi trả xe mô tô cho anh TH và nhờ anh TH chở về nhà. Khi đến quán tạp hóa trên đường tỉnh lộ 261 thuộc xóm ĐP, xã PT,T xuống xe để mua thuốc lá cho anh TH thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ toàn bộ số ma túy T vừa mua được như nêu ở trên, còn anh TH điều khiển xe bỏ đi. Ngoài ra T còn giao nộp cho tổ công tác 02 (hai) xi lanh nhựa đã qua sử dụng. Mục đích T mua ma túy là để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà Trần Mạnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.Bị cáo đã thừa nhận ngày 14/7/2022 đã có hành vi tàng trữ 0,339 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.
Tại bản cáo trạng số: 152/CT- VKSPY ngày 18/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Mạnh T từ 30 đến 36 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,174 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu K1; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn trả 0,142 gam mẫu K2 còn lại sau giám định K2 và vỏ bao gói mẫu K2; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M3 bên trong có 02 xi lanh nhựa đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.
Về án phí: Bị cáoT phải chịu án phí hình sự sở thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáoT không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người làm chứng và người chứng kiến: Tại phiên tòa người làm chứng và những người chứng kiến đều vắng mặt. Bị cáo T và đại diện viện Kiểm sát đều đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trần Mạnh T là đối tượng nghiện ma tuý, ngày 14/7/2022 bị cáo đã từ nhà đem theo 250.000đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) rồi đi đến nhà anh Phạm Văn TH ở xóm ĐP, xã PT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để xây hộ bờ tường rào. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày,T nhờ anh TH chở T bằng xe mô tô đến khu vực phường BS, thành phố Phổ Yên. Khi đi đến khu vực sân bóng trường Trung học cơ sở Bắc Sơn,T mượn xe mô tô của anh TH rồi đi đến khu vực trước cổng Trạm y tế phường Bắc Sơn để mua ma túy về sử dụng. Tại đây,T gặp một người nam giới theoT khai người này tên là H (T không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể của H, chỉ biết H nhà ở xóm L, xã MĐ, thành phố Phổ Yên) mua 250.000 đồng được 0,339 gam Heroine, sau khi mua được ma tuý trên đường về T đã chia nhỏ ra thành hai gói cất giữ ở túi áo và túi quần đang mặc rồi tiếp tục đi đến nơi anh T đứng đợi rồi nhờ anh TH đèo về. Khi đến quán tạp hóa trên đường tỉnh lộ 261 thuộc xóm Đức Phú, xã Phúc Thuận,T xuống xe để mua thuốc lá cho anh TH thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ và thu toàn bộ số ma túy T vừa mua được như nêu ở trên. Mục đích T mua số ma tuý Heroine đó là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác. Như vậy Hành nêu trên của Trần Mạnh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Trần Mạnh T theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, xuất phát từ việc nghiện ma tuý, bị cáo đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân từ đó đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân, tiếp tay cho những đối tượng mua bán chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, để cải tạo giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa tội phạm.
. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động được gia đình nuôi ăn học đến lớp 5 thì nghỉ học. Bị cáo đã không chịu tu dưỡng rèn luyện nên đã mắc nghiện ma tuý rồi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, số lượng ma tuý bị cáo tàng trữ không nhiều xong bị cáo có 01 tiền sự và là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc và bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo đã không từ bỏ được ma tuý và không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý rồi dẫn đến phạm tội, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt được.
Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,174 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu K1; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn trả 0,142 gam mẫu K2 còn lại sau giám định K2 và vỏ bao gói mẫu K2; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M3 bên trong có 02 xi lanh nhựa đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho. Đây là số ma tuý còn lại sau giám định và là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trần Mạnh T, theoT khai mua của một người nam giới tại khu vực trước cổng trạm y tế phường Bắc Sơn, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.T chỉ biết người nam giới tên là Hải ở xóm Lầy, xã Minh Đức, thành phố Phổ Yên, không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ tiếp tục xử lý sau.
Đối với anh Phạm Văn TH là người chở T và sau đó cho T mượn xe mô tô để đi mua ma tuý, nhưng anh TH không biết T mượn xe để đi mua ma tuý và anh TH cũng không tham gia vào việc mua ma tuý cùng với T, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với TH là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T 30 (ba mươi) tháng tù.
Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/7/2022.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Trần Mạnh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1, ghi hoàn trả 0,174 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu K1; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn trả 0,142 gam mẫu K2 còn lại sau giám định K2 và vỏ bao gói mẫu K2; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M3 bên trong có 02 xi lanh nhựa đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.
“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 21/10/2022”.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Mạnh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà Nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Phổ Yên; - Công an thành phố Phổ Yên; - CCTHA thành phố Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND xã PT; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký tên) Hà Thị Thu Thủy |