- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 42 (bốn mươi hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2022/HS-ST. Ngày 30-11-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Huệ.
2. Bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2022/TLST-HS ngày 28/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2022/QĐXXST-HS ngày 15/11/2022, Quyết định thay đổi hội thẩm nhân dân số 143/2022/QĐ-TA ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến D, sinh năm 1991 tại tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; chỗ ở: Tiểu khu L, thị trấn K, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị M (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 29/7/2019, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/11/2020, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/03/2021, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/05/2022; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/8/2011, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 04/03/2014, Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 31/7/2014, Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 14/01/2019, Công an phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”; bị bắt, tạm giữ ngày 05/8/2022, tạm giam từ ngày 14/8/2022 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1979; vắng mặt.
2. Ông Phạm Xuân S, sinh năm 1956; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 05/8/2022, Nguyễn Tiến D đang ở nơi làm việc thì có một người thanh niên khoảng 30 tuổi (D không biết tên tuổi, địa chỉ) là bạn mới quen đi đến rủ: “Có đi chơi không”, hiểu ý người thanh niên rủ đi sử dụng ma túy nên D nói: “Em không có tiền” thì người đó nói: “Cứ đi với tao, tao có tiền” nên D đồng ý. Sau đó D và người thanh niên đi bộ đến khu vưc ngã tư tổ dân phố Do Nha, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý thì dừng lại, người thanh niên nói với D: “Mày đứng đây chờ, tao đi lấy hàng” rồi bỏ đi. Một lát sau người đó quay lại đưa cho D 01 gói giấy bạc màu trắng và nói: “Cầm lấy, để tao đi mua xi” rồi lại bỏ đi. Biết gói giấy bạc người thanh niên đưa cho là ma túy nên D liền cầm lấy giữ trong lòng bàn tay phải. Trong lúc đứng chờ người thanh niên quay lại, D bị lực lượng Công an phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý đang làm nhiệm vụ phát hiện thấy có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, D tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, D khai nhận đó là gói ma túy, cất giấu mục đích để sử dụng.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Tiến D.
Tại bản Kết luận giám định số 391/KL-KTHS ngày 08/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,193 gam, loại Heroine”.
Bản Cáo trạng số 144/CT-VKS-PL ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Tiến D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến D, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Tiến D từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng; kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng; lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 05/8/2022, tại khu vực tổ dân phố Do Nha, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, Nguyễn Tiến D đã bị lực lượng Công an phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,193 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu do đã nhiều lần bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” (trong đó có 02 lần chiếm đoạt tài sản dưới mức 2.000.000 đồng) đều chưa được xóa án tích; bản thân đã từng bị kết án về các tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích và hết thời hạn coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 của Bộ Luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; có người thân (ông, bà ngoại) là người có công được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
5.1.Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy và các tệ nạn khác là nguyên nhân phát sinh tội phạm. Bị cáo là người đã từng bị kết án phạt tù về tội phạm ma túy và các tội phạm khác nhưng không chịu cải tạo, tu dưỡng, lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, ở mức độ tái phạm thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người mới chấp hành xong hình phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên khoảng 30 tuổi theo bị cáo khai là người đã đưa ma túy cho bị cáo cất giấu, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người thanh niên, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra đã không có đủ cơ sở để xem xét, xử lý đối với người này là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
7.1. Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
7.2. Đối với 01 giấy phép lái xe và 01 giấy chứng minh nhân dân thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra đã xác định đó là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm trong vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 05/8/2022.
2. Xử lý vật chứng:
2.1. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D 01 (một) giấy phép lái xe số 140179003814 mang tên Nguyễn Tiến D.
2.2. Giao cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Hà Nam tạm giữ và trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D sau khi chấp hành xong án phạt tù 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 050997277 mang tên Nguyễn Tiến Dũng cấp ngày 22/9/2020.
2.3. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01”, số: 391/KTHS, mặt sau có chữ ký và đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 28/10/2022.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo Nguyễn Tiến D; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |