- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Diễm Ly - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS; sửa bản án sơ thẩm phần xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2022/HS-PT Ngày: 25-7-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Thuấn
Bà Trần Thị Trâm Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Lê Thị Diễm Ly do có kháng cáo của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Lê Thị Diễm L, sinh năm 1980 tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp 8 Xáng I, xã ĐH, huyện AM, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh X, sinh năm 1958 và bà Phạm Thúy N, sinh năm 1958; có chồng Trần Nhựt Đ (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2021 cho đến nay. (Bị cáo co mặt tại phiên tòa)
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS.
Địa chỉ: Lầu 8,9,10 Tòa nhà Gilimex, số 24C PĐL, phường 6, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện tham gia tố tụng: Ông Đàng Thanh Ph, sinh năm 1985 -Chuyên viên pháp lý tố tụng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/6/2021, Công an huyện phối hợp Công an xã Hưng Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ của Lê Văn M và Lê Thị Diễm L 03 (Ba) bịch nylon có rãnh gài, Mi bịch có kích thước lần lượt khoảng 07 cm x 04 cm, 06 cm x 04 cm, 6,5 cm x 04 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy; 01 (Một) khẩu trang y tế màu xanh có quai màu trắng, ghi dòng chữ Thái Tường được cột một sợi cao su màu đỏ nhạt; 01 (Một) xe biển kiểm soát 68M1-441.45, nhãn hiệu: YAMAHA, số liệu: EXCITER, màu sơn: Xanh - đen, số khung: RLCUG1010LY256319, số máy: G3D4E1027352 (xe cũ đã qua sử dụng).
Quá trình điều tra Lê Văn M và Lê Thị Diễm L khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 04/6/2021, Lê Văn M điều khiển xe mô tô biển số 68M1- 441.45 (xe do Lê Thị Diễm L đứng tên) chở Lê Thị Diễm L đi từ huyện Tân Hiệp về nhà. Trên đường về nhà, M kêu L điện thoại cho Châu (không rõ lai lịch) để mua ma túy với số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) nhằm mục đích sử dụng thì L đồng ý. Sau đó, L điện thoại cho Ch hỏi mua ma túy thì Ch đồng ý bán và hẹn L đến cống Điều hành thuộc phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để lấy ma túy. Khi đến cống Điều hành, M đậu xe bên ngoài, còn L đi vào gặp Châu mua 03 (Ba) bịch ma túy đá giá 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, L lấy khẩu trang y tế quấn 03 (Ba) bịch ma túy lại, cầm trên tay và đi ra chỗ M đậu xe chờ nói mua được ma túy. Sau đó, M điều khiển xe chở L về đến ấp XR, xã HY, huyện AB thì bị bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 612/KL-KTHS ngày 09/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất đựng trong 03 (Ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 15,1934 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vật chứng của vụ án gồm: 03 (Ba) bịch nylon có rãnh gài, Mi bịch có kích thước lần lượt khoảng 07 cm x 04 cm, 06 cm x 04 cm, 6,5 cm x 04 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy; 01 (Một) khẩu trang y tế màu xanh có quai màu trắng, ghi dòng chữ Thái Tường được cột một sợi cao su màu đỏ nhạt; 01 (Một) xe biển kiểm soát 68M1-441.45, nhãn hiệu: YAMAHA, số liệu: EXCITER, màu sơn: Xanh - đen, số khung: RLCUG1010LY256319, số máy: G3D4E1027352 (xe cũ đã qua sử dụng).
Tại Bản án sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Lê Văn M và Lê Thị Diễm L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn M 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2021.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm L 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2021.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Buộc Công ty tài chính TNHH HD SS có nghĩa vụ nộp lại Giấy đăng ký xe bản gốc cấp ngày 27/5/2021 đứng tên Lê Thị Diễm L, xe biển kiểm soát 68M1-441.45, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: EXCITER, màu sơn: Xanh-đen, số khung: RLCUG1010LY256319, số máy: G3D4E1027352 để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe biển kiểm soát 68M1-441.45, nhãn hiệu: YAMAHA, số liệu: EXCITER, màu sơn: Xanh - đen, số khung: RLCUG1010LY256319, số máy: G3D4E1027352 (xe cũ đã qua sử dụng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi giấy màu trắng được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Nguyễn Văn Đủ, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang niêm phong mẫu vật, vụ số 612/2021. Theo Kết luận Giám định số 612/KL-KTHS, ngày 09/6/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong túi giấy chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất trong 03 (Ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 15,1934 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 15,0688 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số: 612/2021; 01 (Một) khẩu trang y tế màu xanh có quai màu trắng, ghi dòng chữ Thái Tường được cột một sợi cao su màu đỏ nhạt.
Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 04/QĐ-VKS-HS ngày 24/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 463, 465, 466, 467 và 468 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Lê Thị Diễm L có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH HD SS số nợ vốn và lãi tính đến ngày 15/4/2022 là 53.110.070đ (Trong đó nợ gốc là 40.000.000đ) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay tính từ ngày 16/4/2022 trên nợ gốc còn lại tương ứng với thời gian chậm thanh toán.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/4/2022 Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS có đơn kháng cáo yêu cầu nhận lại xe máy để xử lý tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay của bị cáo Lê Thị Diễm L tại HD SS, trường hợp không nhận lại được xe máy đề nghị giao xe máy cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá theo quy định của pháp luật để ưu tiên thanh toán cho HD SS số tiền 53.110.070đ.
Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về tội danh, các bị cáo bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Về kháng cáo của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS yêu cầu sửa bản án sơ thẩm phần biện pháp tư pháp, giao lại chiếc xe EXITER biển kiểm soát 68M1-441.45 thuộc sở hữu của bị cáo Lê Thị Diễm L (là tang vật bị thu giữ trong vụ án) để công ty tiến hành bán hóa giá thu hồi nợ. Xét thấy, đây là tài sản bị cáo L đã thế chấp để vay tiền của công ty trước đó theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời việc bị cáo sử dụng tài sản đã thế chấp để thực hiện tội phạm phía công ty không biết, không có lỗi nên nếu tịch thu chiếc xe như bản án sơ thẩm đã tuyên sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của công ty. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357, chấp nhận kháng cáo của Công ty HD SS, sửa bản án phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng. Giao lại chiếc xe là tang vật bị thu giữ của bị cáo Lê Thị Diễm L cho Công ty HD SS để tiến hành hóa giá thu hồi nợ, phần còn lại (nếu có) nộp sung quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa, người bị kháng cáo là bị cáo Lê Thị Diễm L có ý kiến, Tòa xử như thế nào thì bị cáo đồng ý như vậy. Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, mong HĐXX xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem, xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về quyết định của bản án sơ thẩm:
Các bị cáo Lê Văn M và Lê Thị Diễm L bị bắt quả tang hành vi mua ma túy về sử dụng, theo kết luận giám định là Methamphetamin khối lượng 15,1934 gam. Do đó cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của Công ty HD SS xin nhận lại chiếc xe là tang vật trong vụ án để bán hóa giá thu hồi số nợ mà bị cáo Lê Thị Diễm L đã thế chấp xe để vay. HĐXX thấy rằng, chiếc xe EXITER biển kiểm soát 68M1-441.45 là phương tiện phạm tội nên bị thu giữ trong vụ án. Bản án sơ thẩm đã tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47 BLHS. HĐXX thấy rằng, trong trường hợp này cần xem xét đến việc tài sản trước đây đã được bị cáo L ký hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho khoản nợ vay 40.000.000 đồng tại Công ty tài chính HD SS, việc tài sản thế chấp giao cho chủ sở hữu bảo quản sử dụng là thỏa thuận phù hợp pháp luật, bị cáo L được quyền sử dụng, khai thác công dụng của chiếc xe. Quá trình sử dụng xe, bị cáo L có làm công cụ phương tiện đi phạm tội thì Công ty HD SS không biết và cũng không có lỗi trong việc này nên cần phải đảm bảo quyền lợi bên nhận tài sản thế chấp, do đó kháng cáo của Công ty HD SS là có cơ sở được chấp nhận.
Về phần trách nhiệm dân sự: Do công ty SS đã kháng cáo xin nhận lại tài sản thế chấp, nên HĐXX không xem xét giải quyết phần nợ vay giữa bị cáo Lê Diễm L và Công ty TNHH HD SS trong vụ án. Nếu có phát sinh tranh chấp đối với khoản nợ vay này thì hai bên có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
Về quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu nộp lệ phí, án phí.
Bị cáo Lê Thị Diễm L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.656.000đ.
Công ty SAISON, bị cáo Lê Thị Diễm L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Trả lại cho Công ty HD SS tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD SS; sửa bản án sơ thẩm phần xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
-Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 03 (Ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định có khối lượng là 15,0688 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số: 612/2021. Có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Nguyễn Văn Đủ;
-01 (Một) khẩu trang y tế màu xanh có quai màu trắng, ghi dòng chữ Thái Tường được cột một sợi cao su màu đỏ nhạt.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao cho Công ty tài chính HD SS 01 (Một) xe biển kiểm soát 68M1-441.45, nhãn hiệu: YAMAHA, số liệu: EXCITER, màu sơn: Xanh - đen, số khung: RLCUG1010LY256319, số máy: G3D4E1027352 (xe cũ đã qua sử dụng) để tiến hành xử lý bán đấu giá thu hồi số tiền Công ty HD SS đã cho bị cáo Lê Thị Diễm L vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Sau khi thu hồi xong khoản nợ và trừ đi các chi phí cho việc lưu giữ, bảo quản, tổ chức bán đấu giá chiếc xe, số tiền còn lại (nếu có) công ty HD SS có nghĩa vụ nộp lại cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để nộp sung quỹ nhà nước.
Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 04/QĐ-VKS-HS ngày 24/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
3.Về phần trách nhiệm dân sự: Do công ty SAISON đã nhận tài sản thế chấp bán đấu giá để thu hồi nợ, nên HĐXX không xem xét giải quyết phần nợ vay giữa bị cáo Lê Thị Diễm L và Công ty TNHH HD SS.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu nộp lệ phí, án phí.
Bị cáo Lê Thị Diễm L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.656.000đ.
Bị cáo Lê Thị Diễm L, Công ty HD SS không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Trả lại cho Công ty HD SS 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004826 ngày 26/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 19/2022/HSST ngày 15/4/2022 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc Kiểm tra (1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND tỉnh Kiên Giang (1); - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang (1); - Phòng HSNV CA tỉnh KG (1); - Tổ HCTP (1); - TAND huyện An Biên (1); - THA huyện An Biên (1); - VKSND huyện An Biên (1); - CQCSĐT huyện An Biên (1); - Bị cáo (1); - Công ty HD SS (1); - Lưu hồ sơ (1) - Lưu Tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Hiền |