- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, con chung"
- Tòa quyết gì? sự năm 2015. Điều 9, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-12-2022 V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Chí
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thùy
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần
Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 701/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bông X, sinh năm 1982.
Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện G, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp Q 2, xã T, huyện G, tỉnh Long An.
(Chị X có mặt, anh N vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Bông X trình bày:
Chị X và Anh Huỳnh Văn N tiến tới hôn nhân do mai mối và có đăng ký
kết hôn ngày 05/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống, Chị X và anh N có 03 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh năm 2002; Huỳnh Phúc H, sinh ngày 21/3/2009; Huỳnh Trọng N, sinh ngày 19/10/2016. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Một thời gian sau thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là hai bên không hợp dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, anh N thường xuyên cờ bạc, đánh đập và không chung thủy. Nay Chị X nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Chị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bông X yêu cầu được ly hôn
với Anh Huỳnh Văn N.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh năm
2002; Huỳnh Phúc H, sinh ngày 21/3/2009; Huỳnh Trọng N, sinh ngày 19/10/2016. Khi ly hôn Chị X yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung Phúc H và Trọng N. Con chung Kim N đã lớn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị X không yêu cầu Anh Huỳnh Văn N cấp dưỡng nuôi con chung. Phúc H và Trọng N hiện đang sống với Chị X.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bông X không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại bản tự khai ngày 02/12/2022 Anh Huỳnh Văn N trình bày:
Anh N đồng ý với lời trình bày của Chị X. Nay Chị X yêu cầu ly hôn,
anh N đồng ý ly hôn với Chị X. Về con chung muốn sống với ai thì anh N đồng ý theo ý kiến của con chung. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã tiến hành thụ lý vụ án và tống đạt
thông báo thụ lý vụ án cho Anh Huỳnh Văn N. Ngày 02/12/2022, anh N có yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa Chị X vẫn giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu khởi kiện
theo đơn khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị Bông X khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với Anh
Huỳnh Văn N, anh N hiện tại đang cư trú tại huyện Cần giuộc, tỉnh Long An, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ tranh chấp “ly hôn, nuôi con”, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Bông X có mặt tại phiên tòa, Anh
Huỳnh Văn N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N.
. Về yêu cầu của đương sự:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bông X và Anh Huỳnh Văn
N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 05/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị X trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là hai bên không hợp dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, anh N thường xuyên cờ bạc, đánh đập Chị X và không chung thủy. Anh N đồng ý ly hôn và không có ý kiến đối với lời trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn của Chị X. Xét thấy, theo lời trình bày của Chị X thì tình trạng hôn nhân giữa Chị X và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, anh N cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bông X và Anh Huỳnh Văn N
thống nhất có 03 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh năm 2002; Huỳnh Phúc H, sinh ngày 21/3/2009; Huỳnh Trọng N, sinh ngày 19/10/2016. Chị X trình bày con chung Kim N đã lớn, có năng lực hành vi đầy đủ và tự lo được cho cuộc sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Phúc H và Trọng N hiện đang sống chung với Chị X và do Chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của Phúc H, ý kiến của cháu muốn sống chung với Chị X do anh N thường xuyên đi làm xa vắng nhà. Xét thấy, Chị X đi làm có thu nhập ổn định, Chị X là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, con chung vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường và cuộc sống ổn định. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định của các cháu cũng như theo ý kiến của con chung muốn sống với Chị X, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao con chung Phúc H và Trọng N cho Chị X nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Con chung Kim N đã lớn nên không xem xét. Chị X không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị X và anh N thống nhất trình bày
không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bông X phải chịu án phí hôn nhân
gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273, 483 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015. Điều 9, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “ly hôn, nuôi con” của Chị
Nguyễn Thị Bông X đối với Anh Huỳnh Văn N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bông X được ly hôn với Anh
Huỳnh Văn N.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bông X được quyền tiếp tục nuôi
dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Phúc H, sinh ngày 21/3/2009 và Huỳnh Trọng N, sinh ngày 19/10/2016. Anh Huỳnh Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để
cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bông X phải chịu 300.000 đồng án phí
hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Chị X đã nộp theo biên lai thu số 0013309, ngày 03/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Chị X đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai,
đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Cần Giuộc; - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc; - Các đương sự; - UBND xã Đông Thạnh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Toàn |