vanban.org

Bản án 145/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Cẩm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: bị cáo Phạm Thị Cẩm T 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 07/4/2021. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Th, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tn. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Cẩm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 145/2021/HSST
Ngày 05 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hồ Thị Lang – Cán bộ hưu trí Phường 22, quận Bình Thạnh

2/ Ông Nguyễn Văn Tài – Cán bộ hưu trí Phường 11, quận Bình Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Luy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Minh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 163/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Phạm Thị Cẩm T, tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày: 28/9/1999 tại tỉnh Quảng Nam. Hộ khẩu thường trú: 60H N, tổ 33, Khu phố 3, phường H, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: không có nơi ở nhất định. nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn T và con bà Nguyễn Thị T; có chồng là Nguyễn Văn L và có 03 con: lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh ngày 31/01/2020. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giam từ ngày 07/4/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trương Minh L; Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở: 480 B, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Thanh L1; Địa chỉ: 117/71 N, Phường A, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

3/ Ông Nguyễn Tấn T; Địa chỉ: 108/27/28G V, Phường A, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 06/4/2021, tại trước số 88 Q, Phường C, quận Y, tổ tuần tra Công an quận Bình Thạnh phát hiện ông Trương Minh L điều khiển xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate biển số 59S2-621.42 chở theo Phạm Thị Cẩm T ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong túi xách màu nâu đang đeo trên người T có 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp nhựa trong suốt đựng 01 gói nilon chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy nên đưa ông L, T cùng tang vật về trụ sở để tiếp tục làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Cẩm T khai nhận bản thân bắt đầu sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2021. Ngày 04/4/2021, Thư thấy trên nhóm facebook “TRÙM TRÀ ĐÁ” có người đăng tin bán ma túy đá và có để lại số điện thoại nên T liên hệ hỏi mua 100.000 đồng ma túy đá, mục đích để sử dụng cho bản thân. Có đối tượng nam (không rõ lai lịch) bắt máy, hướng dẫn T đi đến khu vực đường N, Phường A, quận Y và bỏ tiền vào lỗ trống trên cây cột điện rồi đi nơi khác. Một lúc sau, đối tượng này gọi cho T kêu quay lại chỗ cũ lấy ma túy. T làm theo và lấy được 01 gói nylon chứa ma túy trong lỗ trống trên cây cột điện, rồi cất trong hộp nhựa trong suốt bỏ vào túi xách và đi về. Đến ngày 06/4/2021, T mang theo số ma túy này trong người thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ như đã nêu trên (bút lục: 77-78).

Đối với ông Trương Minh L là người hành nghề chạy xe ôm. Ngày 06/4/2021, ông L đang chờ khách ở đường N, Phường A, quận Y thì gặp T thuê chở đến khách sạn T, Thành phố T. Trên đường đi thì bị lực lượng Công an kiểm tra, ông L không biết và không liên quan đến việc T cất giấu ma túy (bút lục: 51-52).

Kết quả xét nghiệm ông Trương Minh L âm tính ma túy, Phạm Thị Cẩm T dương tính với Methamphetamine và Aphetamine.

Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có kết luận giám định số 2307 ngày 15/4/2021, kết luận: tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Thị Cẩm T, Nguyễn Viết Nh (điều tra viên), Trương Minh L, Ngô Thanh Tg (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 26, quận Bình Thạnh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1647g, loại Methamphetamine (bút lục: 36).

Vật chứng: (bút lục: 31; 32; 37)

- 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Th, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tn. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 0,0697g.

- 01 nỏ thủy tinh.

- 01 túi xách màu nâu và 01 hộp nhựa trong suốt Thư sử dụng để cất giấu ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn sim số xxxxxxxxxx. Đây là tài sản của Thư sử dụng để liên lạc với đối tượng bán ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu xanh đen có gắn sim số xxxxxxxxxx. Đây là tài sản của ông L sử dụng để liên lạc với gia đình, bạn bè.

- 01 xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate biển số 59S2-621.42. Tiến hành xác minh được biết xe này do ông Nguyễn Tấn T đứng tên đăng ký. Tuy nhiên anh T không có mặt tại địa phương, đã bán nhà chuyển đi đâu không rõ, hiện không liên lạc mời làm việc được (bút lục: 63).

Ông Trương Minh L khai nguồn gốc xe này mượn của ông Nguyễn Thanh L1 và ông L1 có đưa cho ông L 01 giấy đăng ký xe trên mang tên Nguyễn Tấn T. Tiến hành làm việc, ông Nguyễn Thanh L1 khai trước đây có mua 01 chiếc xe gắn máy từ người bán không rõ lai lịch rồi không làm thủ tục sang tên mà đưa xe đó cho ông Lợi mượn sử dụng luôn nên ông L1 không nhớ thông tin xe, không xác định được chiếc xe đang bị tạm giữ có phải xe ông L1 đã đưa ông L mượn hay không (bút lục: 51-52; 84).

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh L1 không nhớ bản thân có từng mua xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate biển số 59S2-621.42 hay không. Tuy nhiên, vẫn yêu cầu được nhận lại xe này (bút lục: 84).

Bản cáo trạng số 168/CTr-VKSBTh ngày 30 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Thị Cẩm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Phạm Thị Cẩm T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Phạm Thị Cẩm T từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào lúc 23 giờ ngày 06/4/2021, tại trước số 88 Q, Phường C, quận Y, kiểm tra bắt quả tang Phạm Thị Cẩm T cất giấu trái phép 0,1647g, loại Methamphetamine, mục đích Thư cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Phạm Thị Cẩm T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

3 Bằng ý thức của mình, bị cáo biết rõ đây là loại biệt dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý vì chúng có tính gây nghiện mạnh, hủy hoại sức khỏe và khả năng lao động, làm cho thần kinh của người nghiện bị tổn hại dẫn đến rối loạn hành vi, dẫn tới suy yếu nòi giống, là nguồn gốc và điều kiện phát sinh lan truyền các căn bệnh nguy hiểm, nhất là đại dịch HIV/AIDS. Do đó, Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình lén lút tàng trữ, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi ấy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta về chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến việc phát triển đúng đắn nên Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Lẽ ra Hội đồng xét xử phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không có động cơ vụ lợi nên miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Th, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tn. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 0,0697g. Đây là chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 nỏ thủy tinh, 01 túi xách màu nâu và 01 hộp nhựa trong suốt T sử dụng để cất giấu ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn sim số xxxxxxxxxx. Đây là tài sản T sử dụng để liên lạc với đối tượng bán ma túy, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu xanh đen có gắn sim số xxxxxxxxxx là tài sản của ông L sử dụng để liên lạc với gia đình, bạn bè, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông L.

- 01 xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate biển số 59S2-621.42. Tiến hành xác minh được biết xe này do ông Nguyễn Tấn T đứng tên đăng ký, tuy nhiên ông T không có mặt tại địa phương, đã bán nhà chuyển đi đâu không rõ, đến nay không liên lạc mời làm việc được. Ông Trương Minh L khai nguồn gốc xe này mượn của ông Nguyễn Thanh L1 và ông L1 có đưa cho ông L 01 giấy đăng ký xe trên mang tên Nguyễn Tấn T. Tiến hành làm việc, ông Nguyễn Thanh L1 khai trước đây có mua 01 chiếc xe gắn máy từ người bán không rõ lai lịch rồi không làm thủ tục sang tên mà đưa xe đó cho ông L mượn sử dụng luôn nên ông L1 không nhớ thông tin xe, không xác định được chiếc xe đang bị tạm giữ có phải xe ông L1 đã đưa ông L mượn hay không. Xét đây là tài sản của ông L1, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông L1.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh L1 không nhớ bản thân có từng mua xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate biển số 59S2-621.42 hay không. Tuy nhiên, vẫn yêu cầu được nhận lại xe này. Cơ quan điều tra đã đăng báo nhưng không có ai đến nhận hoặc tranh chấp, nên Hội đồng xét xử trả lại xe này cho ông Nguyễn Thanh L1.

8 Đối với đối tượng bán ma túy cho T hiện chưa rõ lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

9 Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Cẩm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Phạm Thị Cẩm T 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 07/4/2021.

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Th, cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tn. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 0,0697g; 01 nỏ thủy tinh, 01 túi xách màu nâu và 01 hộp nhựa trong suốt.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn sim số xxxxxxxxxx.

- Trả lại cho ông Trương Minh L 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu xanh đen có gắn sim số xxxxxxxxxx.

- Trả lại cho ông Nguyễn Thanh L1 01 xe gắn máy hiệu Suzuki Hayate biển số 59S2-621.42, số máy F4A5-166547, số khung RLSCF4EHOA0106307, loại xe: 02 bánh từ 50 đến 175 cm3, nhãn hiệu: SUZUKI, số loại: Hayate.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Phạm Thị Cẩm T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ