- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 29/QĐ-VKS-P7 ngày 03/02/2021, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2021/HSPT Ngày 20 tháng 5 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Các thẩm phán:
Bà Thái Thị Thanh Bình
Bà Hoàng Thị Thu Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2021/TLPT-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo Nguyễn Văn Th do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2021/HS-ST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2021/QĐXXPT-HS ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo bị kháng nghị:
Họ tên: Nguyễn Văn Th (Sáu Th) sinh năm 1961 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: Ấp B, xã Ph, huyện Nh, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Đoàn Thị T, sinh năm 1933; có vợ là Nguyễn Thị Bích Ph, sinh năm 1960; có 3 con, lớn sinh 1981, nhỏ sinh 1985; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 21/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 04 năm tù về tội chứa mại dâm, đến ngày 15/8/2018 chấp hành xong toàn bộ bản án và đã đương nhiên được xóa án tích theo quy định;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/8/2020 (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Kh, xã Kh, huyện Ch, tỉnh A.
2. Bà Đặng Thị Th, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố Ph, phường Ng, thành phố Y, tỉnh Y.
3. Bà Nguyễn Thị Bích Ph, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã Ph, huyện Nh, Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Th là quản lý của nhà nghỉ 317 thuộc ấp B, xã Ph, huyện Nh, Đ. Vào ngày 04/8/2020, Phạm Thị Th1, sinh năm 1969, ngụ tại ấp Khh, xã Kh, huyện Ch, tỉnh A đến nhà nghỉ của Th xin vào làm tạp vụ quét dọn trong nhà nghỉ. Đến ngày 10/8/2020, Th1 gặp Th nói nếu có khách đến mua dâm thì nhờ Th giới thiệu cho Th1 bán dâm để kiếm thêm thu nhập, Th đồng ý và thỏa thuận với Th1 là mỗi lần bán dâm thì Th sẽ đứng ra thỏa thuận giá cả với khách, Th sẽ lấy 50.000 đồng trong số tiền bán dâm, số tiền bán dâm còn lại Th hưởng, Th1 đồng ý.
Đến ngày 15/8/2020, Đặng Thị Th2, sinh năm 1981, ngụ tại phường Ng, thành phố Y, tỉnh Y đến nhà nghỉ của Th thuê phòng A3 để ở. Đến ngày 16/8/2020, Th2 nói với Th là đến Nhơn Trạch tìm bạn nhưng không có tiền và nhờ Th kiếm việc làm giúp. Th nói Th2 ở lại nếu có khách đến mua dâm thì Th sẽ giới thiệu cho Th2 bán dâm cho khách và thỏa thuận với Th2 mỗi lần bán dâm Th sẽ đưa lại cho Th2 100.000 đồng, tiền bán dâm còn lại Th hưởng, Th2 đồng ý.
Vào lúc 20 giờ ngày 18/8/2020, khi Th đang ở quầy tiếp tân nhà nghỉ 317 thì Nguyễn Văn K (sinh năm 1992), ngụ tại ấp Ph xã Đại Ph, huyện Nh, tỉnh Đồng Nai đến hỏi Th “ở đây có em nào vui vẻ không”, Th trả lời “có, người lớn tuổi không à, giá 200.000 đồng à”, K đồng ý mua dâm và lấy 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đưa cho Th. Th dẫn K đến phòng số A3 và mở cửa cho K đi vào gặp Đặng Thị Th2 để K quan hệ tình dục với Th2. Khoảng 10 phút sau tiếp tục có Nguyễn Hồng Ph (sinh năm 1990), ngụ tại ấp B, xã Đại Ph, huyện Nh, tỉnh Đ đến hỏi Th tìm gái mua dâm, Th đồng ý và chỉ Ph lên phòng A5 rồi tí xuống tính tiền sau. Lúc này, Th gọi điện zalo cho Phạm Thị Th1 nói Th1 mở cửa cho Ph vô phòng A5. Th1 mở cửa cho Ph đi vô phòng rồi đi ra cầu thang hỏi Th đã lấy tiền của Ph chưa, Th nói khi nào Ph về thì trả tiền sau, Th1 đi vô phòng gặp Ph.
Đến 20 giờ 30 phút ngày 18/8/2020, Công an huyện Nhơn Trạch tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ 317 thuộc ấp Bh, xã Ph, huyện Nhh, tỉnh Đ thì phát hiện bắt quả tang K đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Th2 tại phòng A3, còn Ph và Th1 đang ngồi trong phòng A5 chưa thực hiện hành vi quan hệ tình dục, lợi dụng lúc lực lượng kiểm tra sơ hở Nguyễn Văn Th đã bỏ trốn.
Đến ngày 19/8/2020, Nguyễn Văn Th đến Cơ quan CSĐT Công an huyện đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Số tiền Nguyễn Văn Th thu lợi bất chính từ việc cho Đặng Thị Th2 bán dâm cho Nguyễn Văn K trong ngày 18/8/2020 là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Vật chứng vụ án: 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng, số tiền 100.000 đồng Nguyễn Anh Ch (con của Nguyễn Văn Th) giao nộp, 01 điện thoại di động hiệu Samsung của Phạm Thị Th1.
Tại bản cáo trạng số 152/CT.VKS-NT ngày 16/11/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Nguyễn Văn Th về tội “chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản án số 17/2021/STHS ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 327, Điều 47, 48; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2020 và phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng)
Ngày 03/02/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành quyết định 29/QĐ-VKS-NT kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 17/2021/HSST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, theo hướng sửa bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên Tòa:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “chứa mại dâm” là đúng quy định. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 327 bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 01 năm 06 sáu tháng tù là không phù hợp. Nguyễn Văn Th có hành vi chứa mại dâm cho 02 đôi mua bán dâm khác nhau trong các khoảng thời gian khác nhau, mặc dù đôi mua bán dâm Phạm Hồng Ph và Nguyễn Thị Th1 chưa thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị cơ quan công an phát hiện, nhưng đây là tội phạm được xây dựng dưới dạng cấu thành hình thức nên hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc. Do đó hành vi của bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng định khung tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch theo hướng sửa án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành đúng trình tự và trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Trên cơ sở các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào lúc 20 giờ ngày 18/8/2020, khi Nguyễn Văn Th đang ở quầy tiếp tân nhà nghỉ 317 thì có Nguyễn Văn K (sinh năm 1992), ngụ tại ấp Ph Lý, xã Đại Ph, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đến hỏi mua dâm và Th nhận 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền mua dâm từ K. Sau đó, bị cáo dẫn K đến phòng số A3 và mở cửa cho K đi vào gặp Đặng Thị Th2 để K quan hệ tình dục với Th2. Khoảng 10 phút sau tiếp tục có Nguyễn Hồng Ph (sinh năm 1990), ngụ tại ấp B, xã Đ, huyện Nh, tỉnh Đi đến hỏi Th tìm gái mua dâm. Th chỉ Ph lên phòng A5 rồi gọi điện zalo cho Phạm Thị Th1 đến, nói Th mở cửa cho Ph vô phòng A5. Tại đây, giữa Phạm Thị Th1 và Nguyễn Hồng Ph chưa thỏa thuận được giá cả mua bán dâm và khi Nguyễn Hồng Ph lên phòng gặp Th1 thì thấy Phạm Thị Th1 già xấu nên cũng đã từ bỏ ý định mua bán dâm. Vì vậy, việc mua bán dâm của cặp Phạm Thị Th1 và Nguyễn Hồng Ph là chưa được thực hiện và hoàn thành nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch không ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Ph và Th1 về hành vi mua bán dâm.
Căn cứ Hướng dẫn tại mục 4 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006; Công văn hướng dẫn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC và tài liệu, chứng cứ thu thập được, xác định: đối với cặp thứ nhất là Đặng Thị Th2 và Nguyễn Văn K đã thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng A3 tại Nhà nghỉ 317 đã hoàn thành; Hành vi của Nguyễn Văn Th đã sử dụng Nhà nghỉ 317 nhận số tiền 200.000 đồng từ người mua dâm Nguyễn Văn K và chỉ cho K vào phòng A3 gặp Đặng Thị Th2 đã ở sẵn trong phòng để quan hệ tình dục. Do đó Nguyễn Văn K, Đặng Thi Th2 đã có hành vi vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội (hành vi mua dâm - bán dâm). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với K và Th2 theo khoản 1 Điều 22 và Điều 23 Nghị định 167/2013 NB-CP ngày 12/11/2013.
Đối với Nguyễn Hồng Ph và Phạm Thị Th1, không bị cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính theo khoản 1 Điều 22 và Điều 23 Nghị định 167/2013 NB-CP ngày 12/11/2013, với lý do Phạm Thị Th1 và Nguyễn Hồng Ph chưa thực hiện hành vi mua bán dâm. Vì vậy, không có căn cứ để xác định Nguyễn Văn Th thực hiện hành vi phạm tội “Chứa mại dâm” theo tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” như Quyết định kháng nghị số 29/QĐ-VKS-NT Ngày 03/02/2021 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Do đó, hành vi của Nguyễn Văn Th chỉ có đủ căn cứ cấu thành tội “Chứa mại dâm”, được quy định tại khoản 1 điều 327 Bộ luật hình sự.
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, hiện bị cáo mắc bệnh viêm gan siêu vi C, nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy Quyết định kháng nghị số 29/QĐ-VKS-NT ngày 03/02/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên Tòa không có căn cứ nên không được ghi nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 29/QĐ-VKS-P7 ngày 03/02/2021, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 17/2021/HSST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
2. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 327, Điều 47, 48; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th (Sáu Th) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2020.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Th 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Bị cáo bị xét xử về tội “Chứa mại dâm”;
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (2); -Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch; - Công an huyện Nhơn Trạch; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |