vanban.org

Bản án 145/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 01 năm 06 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ÔN VĨNH PHÁT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N,
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2021/HS-ST
Ngày: 28/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hoàng Vũ

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2021/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 569/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Ôn Vĩnh Ph1 Sinh năm 1979

Nơi sinh: Cần Thơ (có mặt) Nơi cư trú: Lô D9, khu dân cư Thạnh Mỹ, khu vực Thạnh Mỹ, phường Lê Bình, quận C, thành phố C. Chỗ ở: Khu vực 5, phường Ba Láng, quận C, thành phố C. Nghề nghiệp: Tài xế. Trình độ học vấn: 08/12. Dân tộc: Hoa. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Họ và tên cha: Ôn Vĩnh Ph2 sinh năm 1959 (sống) Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị Thúy H sinh năm 1961 (sống). Anh chị em ruột: 01 người sinh năm 1981. Vợ: Lâm Thị Thu C sinh năm 1986. Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án: 01 lần. Ngày 24/12/1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (cũ) xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2003, chưa thi hành tiền bồi thường thiệt hại.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 24/3/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an quận Ninh Kiều.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Ôn Vĩnh Ph2 sinh năm 1959 (vắng mặt)

Địa chỉ: Lô D9, khu dân cư Thạnh Mỹ, khu vực Thạnh Mỹ, phường Lê Bình, quận C, thành phố C.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Phước H sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: 61/53B, Hùng Vương, phường Thới Bình, quận N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 24/3/2021, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an TP. Cần Thơ kết hợp với Công an phường An Bình, quận Ninh Kiều bắt quả tang Ôn Vĩnh Ph1có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại trước Nhà trọ Nguyễn Quân 1 – Địa chỉ: 28/10A, Nguyễn Văn Cừ, phường An Bình, quận N, thành phố C. Qua khám xét thu giữ các tang vật gồm: 01 gói nilon không màu hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu, để trong gói thuốc lá hiệu Jet; 01 điện thoại di động hiệu VSMART; 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS; 01 xe mô tô biển số 65B1-962.48; Tiền Việt Nam 200.000 đồng (Bút lục 09, 10).

Tại Kết luận giám định số: 111/KLGĐ - PC09 ngày 31/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4857 gam (Bút lục 27).

Quá trình điều tra bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 thừa nhận: Khoảng 15 giờ ngày 24/3/2021 bị cáo và người bạn tên Tuấn (không rõ họ tên, địa chỉ) cùng uống nước tại quán cà phê ở quận Cái Răng. Bị cáo và Tuấn thỏa thuận bị cáo hùn 100.000 đồng, Tuấn hùn 400.000 đồng để mua ma túy và hẹn đến nhà trọ Nguyễn Quân 1 đường Nguyễn Văn Cừ để sử dụng. Bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65B1-962.48 qua khu vực Xóm Chài, phường Hưng Phú, quận C gặp đối tượng nam mua 500.000 đồng ma túy, sau khi khi mua ma túy (để trong bao thuốc là hiệu Jet), bị cáo điều khiển xe mô tô đến nhà trọ Nguyễn Quân 1 – Địa chỉ: 28/10A, Nguyễn Văn Cừ, phường An Bình, quận N, thành phố C. Khi bị cáo đứng chờ Tuấn đến để cùng sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang bị cáo đang cầm bao thuốc là hiệu Jet có gói ma túy bên trong, chưa kịp sử dụng (Bút lục 41- 48).

Đối với xe mô tô biển số 65B1-962.48 do ông Ôn Vĩnh Ph2 (cha ruột của bị cáo) là chủ sở hữu, việc bị cáo sử dụng xe mô tô để mua ma túy sử dụng, ông Ph2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Ninh Kiều đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho ông Ôn Vĩnh Ph2.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo do chưa rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều sẽ xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình. Bị cáo yêu cầu được nhận lại 01 điện thoại di động hiệu VSMART STAR 4, màu đen, đã qua sử dụng và 200.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 28/6/2021. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Có đủ căn cứ xác định ngày 24/3/2021 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4857 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa xóa án tích nên lần phạm tội này xác định là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

- Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 111/KLGĐ-PC09 ngày 31/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ.

+ Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS E168, màu đen, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu VSMART STAR 4, màu đen, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 200.000 đồng.

+ Ghi nhận Cơ quan cảnh sát Điều tra trả lại xe mô tô biển kiểm soát số 65B1-962.48 cho ông Ôn Vĩnh Ph2.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát không ý kiến về việc vắng mặt của những người này và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 24/3/2021 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại trước nhà trọ Nguyễn Quân 1 – Địa chỉ: Số 28/10A, Nguyễn Văn Cừ, phường An Bình, quận N, thành phố C thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật. Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65B1- 962.48 đến khu vực Xóm Chài, phường Hưng Phú, quận C gặp đối tượng nam (không rõ nhân thân lai lịch) mua 500.000 đồng ma túy. Bị cáo cho rằng bị cáo và đối tượng tên Tuấn thỏa thuận bị cáo hùn 100.000 đồng, Tuấn hùn 400.000 đồng để mua ma túy sử dụng chung nhưng đây chỉ là lời trình bày của bị cáo, bị cáo không biết rõ nhân thân lai lịch của Tuấn. Số tiền 500.000 đồng mua ma túy là của bị cáo.

Tại kết luận giám định số: 111/KLGĐ - PC09 ngày 31/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ đã kết luận ma túy có khối lượng 0,4857 gam, loại Methaphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực pháp luật, hiểu biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Pháp luật nghiêm cấm mọi việc tàng trữ, vận chuyển và mua bán về các chất ma túy. Tác hại của ma túy từ lâu đã được tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã có 03 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức pháp luật kém. Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa xóa án tích nên lần phạm tội này xác định tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Gói niêm phong số 111/KL-PC09 ngày 31/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ là hàng cấm nên phải tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển số 65B1-962.48: Trong quá trình điều tra đã làm rõ xe này do ông Ôn Vĩnh Ph2 là chủ sở hữu. Ông Ph2 không biết bị cáo sử dụng của ông vào việc phạm tội. Xét việc Cơ quan cảnh sát Điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 65B1-962.48 cho ông Ôn Vĩnh Ph2 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS, màu đen đã qua sử dụng: Bị cáo dùng để liên hệ với người bán ma túy để mua ma túy, đây là phương tiện phạm tội nên cần phải tịch thu sung quỹ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu VSMART, màu đen, IMEI 355123110620870, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 200.000 đồng đã làm rõ là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo yêu cầu được nhận lại nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 01 năm 06 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 111/KL-PC09 ngày 31/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ.

- Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS E168, màu đen, IMEI 865008031399972, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu VSMART STAR 4, màu đen, IMEI 355123110620870, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 005829 ngày 28/6/2021 của Chi cục Thi hành dân sự quận Ninh Kiều.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/6/2021 giữa Công an quận Ninh Kiều và Chi cục Thi hành dân sự quận Ninh Kiều).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ôn Vĩnh Ph1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ