- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2020/HSST Ngày: 29 - 12 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Trường Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Khánh – Nguyên là Bí thư Đoàn phường Chăm Mát và ông Nguyễn Đức Tính – Phó Bí thư Thành đoàn Hòa Bình.
Thư ký phiên toà: bà Bùi Thị Thảo - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2020/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
BÙI VĂN D, sinh ngày 08/3/2004 . Nơi cư trú: xóm CN, xã TĐ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Có bố là Bùi Văn K và mẹ là Bùi Thị Nh; Vợ con: chưa có. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền sự, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn – Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Nh (mẹ đẻ bị cáo), SN 1974. Nơi cư trú: xóm CN, xã TĐ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. (có mặt)
Người bào chữa: Bà Nguyễn Bích L –Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình. (có mặt)
Đại diện đoàn thanh niên xã TĐ: Bà Bùi Thị Giang Ng – Phó Bí thư đoàn xã TĐ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h35 phút ngày 28/8/2020, tại khu vực tổ 14, phường Dân Chủ, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, Công an thành phố Hòa Bình phát hiện bắt quả tang Đinh Công T, sinh ngày 12/02/2005 và Bùi Văn D đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy.
Tại kết luận giám định số 263/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 03/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong ghi tên Đinh Công T và Bùi Văn D gửi giám định có khối lượng 0,14g là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine”.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn D khai nhận: do cần tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân nên khoảng 10h00 phút ngày 28/8/2020, D rủ bạn là Đinh Công T ra cổng trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Hòa Bình thuê xe đạp điện để đi mua ma túy. T đồng ý. Sau khi thuê được xe, D chở T đến khu vực tổ 11, phường Dân Chủ, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình rồi đưa cho T 200.000đ và bảo T đi vào ngõ mua ma túy, còn D đứng ngoài chờ. Mua được ma túy, D chở T đi về. Khi đi đến khu vực tổ 14, phường Dân Chủ thì cả hai bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 gói ma túy loại Heroine và Methamphetamine. D thừa nhận số ma túy trên cả hai mua để sử dụng cho bản thân.
Người làm chứng anh Đinh Công T thừa nhận lời khai của bị cáo Bùi Văn D là đúng. Sau khi được D đưa cho số tiền 200.000đ, T đi vào trong ngõ và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Số ma túy này, T và D mua để cùng sử dụng cho bản thân.
Cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Bùi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 91, Điều 101 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử phạt Bùi Văn D từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Tàng trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Herôin hoàn trả sau giám định.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Không có ý kiến gì về tội danh, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo của xã nên nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của BLHS xử phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP Hòa Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân TP Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị cáo đã thực hiện:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ, nên có đủ căn cứ xác định: Ngày 28/8/2020, Bùi Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,14gam chất ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, đây còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Thời điểm phạm tội, bị cáo D đã trên 16 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua và cất giấu trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật và nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo của xã; nhận thức và hiểu biết pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được áp dụng khi quyết định hình phạt.
Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hành vi của những cá nhân khác trong vụ án:
Đối với Đinh Công T là người cùng Tàng trữ trái phép chất ma túy với bị cáo D. Thời điểm hành vi bị phát hiện, T chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo với T là phù hợp.
Đối với nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một người đàn ông không quen biết và không nhớ rõ địa điểm mua ma túy nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo, còn lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đạp điện màu trắng đen, đã qua sử dụng được bị cáo D thuê của anh Đỗ Trọng Đ và chị Lê Thị H tại tổ 11, phường Dân Chủ, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Gia đình các bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do đó áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng:
- Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 90; Điều 91; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 414; Điều 415; Điều 416; Điều 420; Điều 423 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Bùi Văn D 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 phong bì.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng số 28/BB ngày 02/12/2020).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn D.
4. Về kháng cáo bản án: Áp dụng điểm o khoản 1 Điều 73; Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bào chữa, người đại diện theo pháp luật của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND thành phố Hòa Bình; - Công an thành phố Hòa Bình; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS TP Hòa Bình; - Bị cáo; Người bào chữa; - Người đại diện hợp pháp; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đinh Trường Sơn |