vanban.org

Bản án 145/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 04/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Tấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Huỳnh Tấn Đ 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 17/01/2020. * Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Tan D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Tấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2020/HS-ST
Ngày : 04 – 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Ngọc Khương.

- Ông Hoàng Văn Mầm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Hiền – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà H’Mi Chan Niê_ Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 04/6/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2020/HSST ngày 05/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Tấn Đ; Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1989; Tại tỉnh: Đắk Lắk. Nơi đăng ký HKTT: Thôn x, xã T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12. Tiền án; Tiền sự: không. Con ông: Huỳnh Ngọc V (đã chết), con bà: Nguyễn Thị Q, hiện đang trú tại: Thôn z, xã T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị H’N Ayun – sinh năm: 2000 hiện trú tại: Số xx đường M, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm: 2012 (con chung với vợ trước đã ly hôn) và con nhỏ sinh năm: 2019 (con chung với chị H’N Ayun).

Bị cáo bị bắt và tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 17/01/2020 cho đến nay_Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tấn Đ là đối tượng nghiện ma túy loại Methamphetamine. Để có tiền mua ma túy sử dụng, Đ nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. Qua mối quan hệ xã hội, Đ biết một người tên T đen (Không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Khoảng 09h30’’ ngày 17/01/2020, Đ sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen gắn sim 0838.382.227 gọi cho T đen hỏi mua 3.600.000 đồng ma túy đá thì T đen đồng ý và hẹn gặp Đ tại khu vực ngã tư đường P và H thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đ sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 47L7 – 7989 đến điểm hẹn gặp T và đưa cho T đen số tiền 3.600.000 đồng. T đen đưa lại cho Đ 01 gói nylon bên trong đựng nhiều gói nylon nhỏ đều chứa chất ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe đi cắt tóc thì có một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0930.231.323 gọi cho Đ hỏi mua 500.000 đồng ma túy. Đ đồng ý và hai bên hẹn giao hàng tại khu vực đường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 11h30’ cùng ngày, khi Đ đến điểm hẹn thì bị lực lượng Công an tỉnh Đắk Lắk kiểm tra phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên trái Đ đang mặc có một gói nylon bên trong đựng 15 gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể.

Ngoài ra, tiến hành khám xét khẩn cấp phòng số 209, nhà nghỉ Hiếu Ngân (Địa chỉ: Số 97/40/7 Y Moan Ênuol, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) nơi Đ thuê phòng thì phát hiện thu giữ trên giường 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể.

Tại bản kết luận giám định số 69/GĐMT-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk đã kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 15 (mười lăm) gói ny lon là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 2,6099 gam.

- Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 (Một) gói ny lon là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,0898 gam.

Tại Bản cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 04/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị HĐXX:

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 2,5552 gam và 0,0658 gam Methamphetamine còn lại sau giám định. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm sim của bị cáo Huỳnh Tấn Đ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone .

Bị cáo không bào chữa và tham gia tranh luận gì. Chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 17/01/2020, tại khu vực đường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk Huỳnh Tấn Đ có hành vi cất giữ 01 gói nylon bên trong đựng 15 gói nylon nhỏ chứa chất ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 2,6099 gam, mục đích để bán là phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn là một trong những nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội, các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Trong vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho bị cáo nhưng chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tách ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,5552 gam và 0,0658 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 69/GĐMT – PC 09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk, 12 gói nylon là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, kèm sim, đã qua sử dụng của bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng kèm sim và số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo sử không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Tấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Huỳnh Tấn Đ 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 17/01/2020.

* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,5552 gam và 0,0658 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 69/GĐMT – PC 09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk, 12 gói nylon.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 354205108931202, kèm sim của bị cáo Huỳnh Tấn Đ.

Tuyên trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng kèm sim, số Imei 359236061042112 và số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho Huỳnh Tấn Đ.

Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2020 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Tấn Đ phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm .

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ