vanban.org

Bản án 145/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị V. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hầu Thị V và anh V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hầu Thị Vích và Giàng Trung Minh"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:145/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05- 6 - 2020
V/v Không công nhận vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:1.Bà Đặng Thị Huệ; 2.Ông Phạm Văn Ninh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: ông Hứa Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2020/TLST-HNGĐ, ngày 04/5/2020 về không công nhận vợ chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hầu Thị V, sinh năm 2001

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

2.Bị đơn: Anh V, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị V và anh Minh có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên hòa giải chị Hầu Thị V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Minh lấy nhau không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào ngày 18/6/2019, sau khi về chung sống với nhau đến ngày 25/9/2019 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng chị bất đồng quan điểm, mâu thuẫn vợ chồng mỗi ngày một trầm trọng và hiện nay vợ chồng chị mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến nhau và vì vợ chồng lấy nhau không có đặng ký kết hôn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận giữa chị với anh Minh là vợ chồng.

- Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.

- Tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về vay nợ: Vợ chồng chị không vay nợ ai, không đề nghị giải quyết.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải anh V trình bầy:

-Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện kết hôn như chị V trình bầy là đúng, vợ chồng anh lấy nhau không có đăng ký kết hôn nhưng được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, quá trình chung sống tình cảm vợ chồng anh thường phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cãi nhau trong cuộc sống, vợ chồng mới sống với nhau được thời gian ngắn, tình cảm không còn, vợ chồng anh không còn tin tưởng nhau và hiện nay vợ chồng đã sống thân, không còn tình cảm và đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận giữa anh với chị V là vợ chồng.

-Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung

- Tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về vay nợ: Vợ chồng anh không vay nợ ai, không đề nghị giải quyết.

Tại phiên toà, chị V và anh Minh đã có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình bầy.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị V. Tuyên xử:

-Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hầu Thị V và anh V.

- Chị Hầu Thị V phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

-Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bầy của nguyên đơn tại phiên toà, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Chị Hầu Thị V có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa bàn xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh V có hộ khẩu thường trú tại: thôn Tân Lập, xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Kim Phú, thành phố Tuyên Quang). Chị V có đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Yên Sơn giải quyết không công nhận giữa chị với anh Minh là vợ chồng đồng thời chị V và anh Minh tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các điều 28, 35 và điều 39 của BLTTDS.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải các bên đương sự đều đề nghị giải quyết không công nhận vợ chồng, về con chung không có, tài sản, vay nợ không đề nghị Tòa án giải quyết. Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt và trong đơn thể hiện giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hầu Thị V và anh V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2019. Tuy chị V và anh Minh chung sống với nhau như vợ chồng trên tinh thần tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và trong quá trình chung sống có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên đến thời điểm Toà án giải quyết anh chị đều xác nhận không có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa chị Hầu Thị V và anh V mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình, nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, do quá trình chung sống cuộc sống chung của anh chị trong thời gian ngắn thường xuyên mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, anh Minh đã đưa chị V về nhà bố mẹ, nên giữa chị V và anh Minh không còn chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2019 đến nay. Nay chị Hầu Thị V có đơn đề nghị Toà án giải quyết không công nhận chị V và anh Minh là vợ chồng, tại bản tự khai và biên bản hòa giải anh Minh nhất trí không công nhận giữa anh với chị V là vợ chồng.

Xác minh tại UBND xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn và UBND phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang (trước là xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn) thể hiện đều không có trường hợp nào trong sổ đăng ký kết hôn mang tên Hầu Thị V và V đăng ký kết hôn tại UBND xã Hùng Lợi và UBND xã Phú Lâm (nay UBND xã Phú Lâm là UBND phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang)

Vậy xét yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị V là có căn cứ cần chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống chị V và anh Minh không có con chung với nhau.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị không yêu cầu xem xét giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Hầu Thị V phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị V theo quy định tại điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các điều 14, điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hầu Thị V.

Xử:

1. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hầu Thị V và anh V.

2. Về án phí: Chị Hầu Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001568 ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Chị V đã nộp đủ án phí.

3. Chị Hầu Thị V và anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ