vanban.org

Bản án 145/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 25/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Về điều luật áp dụng: 3/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Lê Thanh H 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Lê Thanh H - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2019/HSST
Ngày: 25/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Cường.

2. Bà Tô Thị Lành

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 25/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2019/HSST ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Lê Thanh H (Tên gọi khác: H què). Sinh ngày 21/5/1999 tại Gia Lai; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 6, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn S - sinh năm 1975 và bà Lê Thị Bích P - đã chết; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án - Tại Bản án số 21/HSST ngày 21/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố P, tuyên phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “trộm cắp tài sản” đã chấp hành án xong phần hình phạt nhưng chưa được xóa án tích vì chưa nộp tiền án phí; Tiền sự: Ngày 22/9/2018, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 22/9/2018 đến ngày 22/12/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2019, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 8, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 05 phút ngày 13/3/2019 tại phòng trọ số 10, nhà trọ Hoàng Lan, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P phối hợp cùng Công an phường Y bắt quả tang Bùi Lê Thanh H đang tàng trữ 01 gói giấy bạc và 01 gói giấy, bên trong các gói trên đều chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng H khai là Heroin , H mua của người phụ nữ tên T ở xóm C, phường P, thành phố Pleiku (không rõ địa chỉ) để sử dụng. Tất cả số ma túy trên được bỏ vào phong bì niêm phong theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: bị cáo có sử dụng ma túy, khoảng 08h ngày 25/9/2019, bị cáo đi đến xóm C, phường P, thành phố P gặp và đã mua 01 gói Heroin với giá 200.000 đồng của người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được số ma túy trên, bị cáo về phòng trọ số 10, nhà trọ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai chia làm 02 gói: 01 gói giấy bạc và 01 gói giấy để sử dụng . Đến 13h30 phút ngày 25/9/2019, khi đang cất giữ số ma túy trên trong túi quần tại phòng trọ thì bị cáo bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P phối hợp cùng Công an phường Y bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy loại Heroin gồm: 02 gói: 01 gói giấy bạc và 01 gói giấy và còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen không có sim số.

Tại Cáo trạng số 168/CTr-VKS ngày 08 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Bùi Lê Thanh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Bùi Lê Thanh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2019.

Qua trưng cầu giám định, tại Bản kết luận giám định số 576/KLGĐ ngày 03/10/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng dạng cục, bột trong 02 (hai) gói giấy (01 gói giấy bạc và 01 gói giấy ) trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1927 gam”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định số 576/KLGĐ ngày 03/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

* Người làm chứng ông Nguyễn Đăng H (Lời khai tại hồ sơ): Ông chứng kiến việc bị cáo bị bắt quả tang khi đang tàng trữ ma túy và xác nhận khi bị bắt quả tang bị cáo khai chất đang tàng trữ là ma túy loại heroin để sử dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, hứa sẽ không tái phạm, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như lời khai của người làm chứng, biên bản khám xét và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Lê Thanh H đã tàng trữ ma túy để sử dụng. Lượng ma túy thu được của Bùi Lê Thanh H là 0,1927 gram Hêroin; hành vi của bị cáo đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ và đúng pháp luật.

Ma tuý là chất thuộc phạm vi độc quyền quản lý của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này không chỉ tác động có hại trực tiếp đối với người sử dụng mà còn đối với cộng đồng xã hội. Hành vi này kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến sự bình yên của cộng đồng, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo phải nghiêm trị để răn đe và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo: Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo đã tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của nhà nước. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử về tội phạm cố ý, chưa được xóa án tích và bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật và hành vi của bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần quyết định cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để bị cáo cải tạo bản thân là cần thiết.

Tuy nhiên, xét bị cáo quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay đã thành khẩn khai báo, bản thân bị cáo là người đau ốm, bệnh tật: Xương thủy tinh vì vậy, hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định mức hình phạt.

Hành vi phạm tội của bị cáo không thu lợi cho nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với, đối tượng nữ tên T ở thành phố P mà bị cáo khai nhận là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ của đối tượng trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku chưa có căn cứ xử lý. Hiện Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được đối tượng nêu trên, sẽ xem xét và xử lý sau là phù hợp.

Xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen không có sim số là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo; 01 (một) phong bì niêm phong ghi số 576/PC09 ngày 03/10/2019, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai là vật cấm tàng trữ, lưu hành không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các Điểm a và c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

3/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Lê Thanh H 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2019.

4/ Các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng:

+ Trả lại cho Bùi Lê Thanh H: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen (không có sim số, điện thoại cũ đã qua sử dụng)

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong ghi số 576/PC09 ngày 03/10/2019, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Lê Thanh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ