vanban.org

Bản án 145/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Lý Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Lý Minh H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 11/01/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lý Minh H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Lý Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 145/2018/HSST
Ngày: 14-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Hồng Nga.

2. Ông Phạm Minh Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Dung, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Vào ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2018, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 148/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Lý Minh H, sinh năm 1996, tại tỉnh Vĩnh Long; thƣờng trú: Ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Hẻm 551, đƣờng H, phƣờng T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K, sinh năm 1967 và bà Lý Ngọc T, sinh năm 1966; bị cáo có 01 em sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/01/2018 cho đến nay. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trần Văn K, sinh năm 1967; (Có mặt)

Thƣờng trú: Ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Huỳnh Chí K, sinh năm 1994. (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Số 101, đƣờng N, khu phố B, phƣờng V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thắng L, sinh năm 1995. (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Số 16A/26, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Nguyễn Thanh D, sinh năm 1997; (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Số 41/10B, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Võ Quang P, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

Tạm trú: Khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/01/2018, Trần Lý Minh H đang ở phòng trọ tại phƣờng T, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh có ngƣời đàn ông tên S (chƣa rõ nhân thân lai lịch) điện thoại cho H, nói đến đoạn đƣờng TN, thuộc quận G, Thành phố Hồ Chí Minh chở S đi công việc. H điều khiển xe mô tô biển số 68S1 – 279.80 đến nơi hẹn. Khi gặp, S nói với H không đi đƣợc và lấy 01 hộp màu trắng, bên trong có 20 viên nén màu xanh nhạt trong gói nylon bỏ vào túi áo khoác của H, S tiếp tục lấy 01 gói nylon bên trong 02 gói nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng nhét vào cổ áo khoác của H đang mặc. S nói H đi giao số đồ trên cho ngƣời thanh niên có số điện thoại ghi trên hộp đựng 20 viên dạng nén màu xanh nhạt và lấy số tiền 6.000.000 đồng về đƣa cho S, S sẽ trả công cho H 200.000 đồng. Sau khi nhận đồ của S, H lấy ra xem thì biết là ma túy. H bỏ gói nylon bên trong có chất màu trắng vào cổ áo và điều khiển xe mô tô đến khu vực ST, thuộc Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để giao cho ngƣời tên P có số điện thoại 0942.103644 ghi trên hộp giấy. Khi đến khu vực ST, H điện thoại thì P kêu H chạy về khu vực S, thị xã D giao ma túy. Khi H điều khiển xe chạy về đến trƣớc nhà số 183, đƣờng X, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để giao ma túy cho P thì bị Công an phƣờng A thấy có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, H lấy số ma túy trong ngƣời ra giao nộp nên công an lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.

Đối với đối tƣợng tên P khi đến nơi hẹn lấy ma túy thấy H bị công an bắt nên bỏ đi thì bị công an mời về phƣờng làm việc. P đã khai nhận có điện thoại hẹn mua ma túy của ngƣời tên S với số lƣợng nêu trên, tuy nhiên chƣa mua đƣợc thì bị phát hiện.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon bên trong có 02 gói nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng, 01 hộp màu trắng bên trong có gói nylon chứa 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, sim số 0939.572541 và xe mô tô biển số 68S1 – 279.80.

Căn cứ kết luận giám định số 32/MT-PC54 ngày 17/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất màu trắng trong 02 gói nylon miệng kéo dính (ký hiệu M1) là ma túy, loại Ketamine, tổng trọng lƣợng 0,8324 gam (trọng lƣợng còn lại sau giám định 0,6551 gam) và 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt (ký hiệu M2) tổng trọng lƣợng 7,9349 gam, không tìm thấy các tiền chất và các chất ma túy nằm trong danh mục quản lý của Chính phủ (trọng lƣợng còn lại sau giám định 6,6955 gam).

Ngày 20/01/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Trần Lý Minh H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngày 24/4/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Trần Lý Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với ngƣời đàn ông tên S nhờ H đi bán ma túy hiện chƣa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi của Võ Quang P chƣa đủ điều kiện xem xét trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 168/CT – VKS ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Trần Lý Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, là sinh viên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Lý Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của bị cáo Hiếu sử dụng vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.

- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 32/PC54, bên trong có chứa chất màu trắng loại Ketamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,6551 gam (ký hiệu M1); 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt (ký hiệu M2) trọng lƣợng còn lại sau giám định là 6,6955 gam và sim số 0939.572541, đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển số 68S1 – 289.70 thuộc sở hữu của ông Trần Văn K là cha bị cáo H, ông K cho mƣợn xe nhƣng không biết H sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại xe mô tô trên cho ông K nên không xem xét.

Bị cáo Trần Lý Minh H không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Huỳnh Chí K; ngƣời làm chứng Nguyễn Thắng L, Nguyễn Thanh D, Võ Quang P vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những ngƣời nói trên.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Lý Minh H khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/01/2018, H đang ở phòng trọ có ngƣời đàn ông tên S (chƣa rõ nhân thân lai lịch) điện thoại cho H, nói đến đoạn đƣờng TN, thuộc quận G, Thành phố Hồ Chí Minh chở S đi công việc. H điều khiển xe mô tô biển số 68S1 – 279.80 đến nơi hẹn. Khi gặp, S nói với H không đi đƣợc và lấy 01 hộp màu trắng, bên trong có 20 viên nén màu xanh nhạt trong gói nylon bỏ vào túi áo khoác của H, S tiếp tục lấy 01 gói nylon bên trong 02 gói nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng nhét vào cổ áo khoác của H đang mặc. S nói H đi giao số đồ trên cho ngƣời thanh niên có số điện thoại ghi trên hộp đựng 20 viên dạng nén màu xanh nhạt và lấy số tiền 6.000.000 đồng về đƣa cho S, S sẽ trả công cho H 200.000 đồng. Sau khi nhận đồ của S, H lấy ra xem thì biết là ma túy. H điều khiển xe đến khu vực ST, thuộc Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy cho ngƣời tên P có số điện thoại 0942.103644 ghi trên hộp giấy. Khi đến khu vực ST, H điện thoại thì P kêu chạy về khu vực S, thị xã D giao ma túy. Khi H điều khiển xe chạy về đến trƣớc nhà số 183, đƣờng X, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để giao ma túy cho P thì bị Công an phƣờng A kiểm tra. H lấy số ma túy trong ngƣời ra giao nộp nên công an lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.

Đối với đối tƣợng tên P khi đến nơi hẹn thấy H bị công an bắt nên bỏ đi thì bị công an mời về phƣờng làm việc. P đã khai nhận có điện thoại hẹn mua ma túy của ngƣời tên S, tuy nhiên chƣa mua đƣợc thì bị phát hiện.

Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nylon miệng kéo dính chứa chất màu trắng, 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, sim số 0939.572541 và xe mô tô biển số 68S1 – 279.80.

Căn cứ kết luận giám định số 32/MT-PC54 ngày 17/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất màu trắng trong 02 gói nylon miệng kéo dính (ký hiệu M1) là ma túy, loại Ketamine, tổng trọng lƣợng 0,8324 gam và 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt (ký hiệu M2) tổng trọng lƣợng 7,9349 gam, không tìm thấy các tiền chất và các chất ma túy nằm trong danh mục quản lý của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định số 32/MT-PC54 ngày 17/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Lý Minh H đã vi phạm vào Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 168/CT – VKS ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An truy tố Trần Lý Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.

Tính chất, mức độ của hành vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi giúp sức cho đối tƣợng tên S mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, là sinh viên.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Lý Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.

- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 32/PC54, bên trong có chứa chất màu trắng loại Ketamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,6551 gam (ký hiệu M1); 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt (ký hiệu M2) trọng lƣợng còn lại sau giám định là 6,6955 gam và sim số 0939.572541, đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển số 68S1 – 289.70 thuộc sở hữu của ông Trần Văn K là cha bị cáo H, ông K cho mƣợn xe nhƣng không biết H sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại xe mô tô trên cho ông K nên không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Lý Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Lý Minh H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 11/01/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy: Chất màu trắng loại Ketamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,6551 gam (ký hiệu M1); 20 viên nén hình tròn màu xanh nhạt (ký hiệu M2) trọng lƣợng còn lại sau giám định là 6,6955 gam, chứa trong bì thƣ đƣợc niêm phong số 32/PC54 và sim số 0939.572541.

Vật chứng Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc, tiêu hủy nêu trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Lý Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ