vanban.org

Bản án 1442/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Bác yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Th .

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của bà Châu Thị Th xin được ly hôn đối với ông Nguyễn Thế R . 2/ Về con chung: có 02 con chung, Nguyễn Châu Hà M , sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Nhật T , sinh ngày 27/6/2005. Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Th đối với ông Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 1442/2019/HNGĐ-ST Tuyên án 14/10/2019
Phúc thẩm Bản án 44/2020/HNGĐ-PT Tuyên án 15/01/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bác yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Th .
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1442/2019/HNGĐ-ST
Ngày 14 tháng 10 năm 2019
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Võ Văn Tốt – các bộ nghỉ hưu

2/ Bà Huỳnh Thị Tuyết Vân – Hiệu phó trường Hà Huy Giáp

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung - Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1156/2019/TLST-HN Ngày 19/7/2019 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 568/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Châu Thị Th , sinh năm: 1972

HKTT: xã Tam K, huyện Núi T, tỉnh Quảng Nam

Trú tại: A, đường số 30, khu phố 1, phường 6, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế R , 1975

HKTT: Xã Nghĩa P, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Trú tại: A, đường An Phú Đ, tổ 10, khu phố 1, phường An Phú Đ, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Châu Thị Th trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Thế R tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Nghĩa P , huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cấp ngày 04/3/2011. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng tăng và không thể hàn gắn, tôi cảm thấy hai vợ chồng không thể nào hòa hợp chung sống với nhau được nữa. Nay, tôi yêu cầu Tòa án cho chúng tôi được ly hôn với nhau.

Về con chung: có 02 con chung; Nguyễn Châu Hà M , sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Nhật T , sinh ngày 27/6/2005. Bà Châu Thị Th yêu cầu được nuôi 2 con chung không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thế R trình bày:

Đúng là tôi và bà Châu Thị Th tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Nghĩa P , huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cấp ngày 04/3/2011. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nhưng không đến trầm trọng, nay tôi đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ gia đình cho chúng tôi.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ kiện ly hôn, ông Nguyễn Thế R là bị đơn và đang cư ngụ tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự theo quy định tại Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào các lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu của đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

Bà Châu Thị Th và ông Nguyễn Thế R đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Nghĩa P , huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cấp ngày 04/3/2011, có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân bà Châu Thị Th và ông Nguyễn Thế R là hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Th và ông Nguyễn Thế R tự nguyện kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm.

Bà Châu Thị Th yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thế R do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng không phù hợp quan điểm sống, ông R có hành vi đánh bà Th . Về con chung: có 02 con chung; Nguyễn Châu Hà M , sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Nhật T , sinh ngày 27/6/2005. Bà Châu Thị Th yêu cầu được nuôi 2 con chung không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Thế R trong bản tự khai, các buổi hòa giải và tại phiên tòa trình bày: Ông và bà Th có mâu thuẫn, một phần do ông làm xưởng gỗ bị thua lỗ nên có vay tiền ngoài xã hội dẫn đến xích mích, cãi nhau và có đánh vợ. Vợ ông khuyên ông tìm chỗ ở khác để người đòi nợ không làm ảnh hưởng đến học hành của các con. Ông nghe lời vợ chuyển xưởng gỗ đến Quận 12, hiện nay ông đang cố gắng làm ăn lại, các khoản nợ ông tự trả không liên quan đến vợ con. Hai vợ chồng sống ly thân nhưng ông vẫn về đưa đón các con đi học. Ông không muốn gia đình tan nát, vợ con chia lìa, nếu ly hôn ảnh hưởng đến tâm lý và học hành của các con. Ông R đề nghị cho ông thêm thời gian để phục hồi kinh tế lo cho gia đình và có nguyện vọng xin hòa giải đoàn tụ gia đình.

Xét, giữa ông R và bà Th có mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn không trầm trọng để chấm dứt quan hệ hôn nhân. Vì quyền lợi của các trẻ đang cần sự ổn định cuộc sống, học tập và quan tâm chăm sóc của cả cha lẫn mẹ, đồng thời tạo điều kiện thời gian để hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Do đó, Hội đồng xét xử bác yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Th đối với ông Nguyễn Thế R .

Về con chung: có 02 con chung, Nguyễn Châu Hà M , sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Nhật T , sinh ngày 27/6/2005. Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Th đối với ông R nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Châu Thị Th phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Bác yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Th .

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của bà Châu Thị Th xin được ly hôn đối với ông Nguyễn Thế R .

2/ Về con chung: có 02 con chung, Nguyễn Châu Hà M , sinh ngày 18/4/2007 và Nguyễn Nhật T , sinh ngày 27/6/2005. Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Thị Th đối với ông Nguyễn Thế R nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề con chung.

3/ Về tài sản chung,nợ chung: Do các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4/ Án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Châu Thị Th phải chịu. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Châu Thị Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000680 ngày 14/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ông Nguyễn Thế R và bà Châu Thị Th được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ