vanban.org

Bản án 144

TAND TP. Huế Tuyên án 07/10/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ không phải chịu. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 2.922.000 đồng

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn Đ phạm tội Vi phạm an toàn giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

N OÀ

N

N M

N

N

Độc lập – ự do – ạnh phúc Bản án số: 144/2019/HS-PT Ngày: 07/10/2019

NHÂN DANH

N

N

N

N M

N N N N N

N

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

-

: Ông Nguyễn Văn Trung.

c

: Ông Trương Cao Sơn- Ông Nguyễn Thanh Lộc

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Ái Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2019/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Trần Văn Đ do có kháng cáo với bản án hình sự số 138/2019/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bị cáo có kháng cáo:

rần ăn Đ; sinh ngày 28 tháng 02 năm 1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số 311 đường A, phường B, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn B (đã chết) và bà Đoàn Thị H; vợ: Hà Thị Trà M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Mai Văn Đ, sinh năm 1985

Trú tại: Tổ 8, khu vực 4, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 19/10/2018, Trần Văn Đ có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75F1 - 601.48 lưu thông trên đường Đinh Tiên Hoàng, hướng từ cầu Bạch Yến đến cầu Kho. Khi đến đoạn qua cột điện số 11 đường Đinh Tiên Hoàng (thuộc phường Thuận Lộc, thành phố Huế), Đ phát hiện phía trước cùng chiều có xe mô tô đang đi với tốc độ chậm hơn. Đ điều khiển xe mô tô 75F1 - 601.48 lách sang trái để vượt lên. Do Trần Văn Đ vượt xe không đảm bảo sự an toàn, nên đã va chạm với xe mô tô 76F1-1963, do anh Mai Văn Đáp điều khiển đi theo hướng ngược lại, gây tai nạn.

* ậu quả: Anh Mai Văn Đáp và Đ bị thương nặng: hai xe mô tô bị hư hỏng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 427-18/TgT ngày 18/12/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đã kết luận về thương tích của anh Mai Văn Đáp như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Chấn thương mắt trái vỡ nhãn cầu hiện nhãn cầu teo nhỏ, ánh sáng (-).41%.

Chấn thương vỡ phức tạp xương hàm trên và xoang hàm bên phải đã phẫu thuật kết hợp xương: 11%

Chấn thương vỡ phức tạp xương hàm trên, xoang hàm trái, cung tiếp gò má trái và xương hàm dưới vùng cằm đã phẫu thuật kết hợp xương, hiện sai khớp cắn, ảnh hưởng chức năng nhai ăn 35%

Chấn thương vỡ vụn phức tạp tháp mũi, hiện biến dạng tháp mũi, sẹo co kéo ảnh hưởng thẩm mỹ và chức năng thở, ngửi 30%.

Chấn thương gãy xương đòn phải đã tạo can 6%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung cơ thể hiện tại là 78% (Bảy mươi tám phần

trăm)

Vật gây: Diện tày có hình cầu tác động trực tiếp vào giữa mặt chếch trái gây nên các tổn thương phức tạp vùng mặt.

Tổn thương gãy xương đòn phải do vật tày, phù hợp hiện trường tai nạn, nạn nhân

ngã dập vai phải xuống mặt đường tạo nên.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, phẳng, thảm nhựa, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường rộng 07m25, có ánh sáng điện đường. Lấy mép đường bên phải đường Đinh Tiên Hoàng theo hướng khám nghiệm cầu Kho đến Cửa Hậu làm chuẩn. Lấy mép cột điện số 11 đường Đinh Tiên Hoàng làm mốc khám nghiệm. Từ mốc khám nghiệm cách ra mặt đường 04m80và cách về hướng Cửa Hậu 06m20 là trục dưới xe mô tô 75F1-3963.

Xe mô tô 75F1 – 3963 sau tai nạn ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay về hướng cầu Kho, đuôi xe quay về hướng Cửa Hậu; trục trước và trục sau xe cách mép đường chuẩn về bên trái lần lượt là 2m45 và 2m10, được đánh dấu vị trí số 01 trên hiện trường.

Dấu vết số 02 là vùng đầu kích thước (0.80 x 0,60)m, nằm dưới thân trước xe mô tô 75F1-3963, tâm cách mép đường chuẩn về bên trái 2m55.

Dấu vết số 03, 04, 05 là các dấu vết cày đều có chiều hướng từ Cửa Hậu đến cầu Kho dài lần lượt là 0m70, 0m60 và 0m40, có các điểm đầu cày mép đường chuẩn lần lượt là 02m95, 02m20 và 02m60, điểm cuối vết cày thứ nhất nằm dưới tay cầm bên phải xe mô tô 75F1-3963, điểm cuối vết cày thứ hai nằm dưới ống bô xe mô tô 75F1-3963, điểm cuối vết cày thứ ba cách mép đường chuẩn về bên trái 02m65, cách điểm đầu vết cày thứ hai về hướng cửa Hậu 0m50 và cách trục sau xe mô tô 75F1-3963 về hướng Cửa Hậu một đoạn 01m.

Xe mô tô 75F1-601.48 sau tai nạn ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng về Cầu Kho, đuôi xe hướng về Cửa Hậu, trục trước cách mép đường chuẩn về bên trái 03m50 và cách trục sau xe mô tô 75F1.3963 về hướng Cửa Hậu 02m30, trục sau xe cách mép đường chuẩn về bên trái 02m50.

*Kết quả khám phương tiện sau tai nạn xác định:

+ Xe ô tô 75F1-3963: Đèn chiếu sáng trước bị vỡ nát; phuộc trước hai bên bị gãy và cong lệch hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái; chắn bùn và bánh trước bị móp méo, biến dạng; mặt ngoài chắn bùn trước bên trái có dính chất màu đỏ. Tay cầm trước bên phải bị chà xước sáng kim loại, mất bọc cao su ngoài, kích thước (2,5x03)cm, bị cong lệch từ trước ra sau. Mặt ngoài phía đuôi bô xe bị chà xước sáng kim loại kích thước (03x05)cm..

+ Xe mô tô 75F1-601.48: Phần ốp nhựa đầu xe bị vỡ nát có dính chất màu xanh đen. Mang xe bên trái và phải bị vỡ nát; phuộc trước bên trái bị cong lệch từ trước ra sau, chà xước sáng kim loại có kích thước (08x06)cm. Đầu mút bên trái bị chà xước cao su, có kích thước (02x02)cm. Lưới tản nhiệt bên trái bị chà xước, móp lún sáng kim loại. Biển số xe bị gãy, văng ra khỏi vị trí ban đầu.

*Về xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 75F1-601.48 là của Trần Văn Đ mua lại của anh Hà Văn Phúc nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Sau khi tiến hành khám nghiệm phương tiện, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại 02 chiếc xe mô tô biển số 75F1-601.48 và 75F1-3963 cho các chủ sở hữu.

*Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Mai Văn Đáp yêu cầu Trần Văn Đ phải bồi thường cho mình tổng số tiền 208.000.000 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu đồng) về các khoản cho phí điều trị, công chăm sóc, mất sức lao động và chi phí sửa chữa xe mô tô 75F1-3963. Hiện Trần Văn Đ mới bồi thường cho anh Đáp số tiền 3.000.000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 01/7/2019, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã quyết định:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt Trần Văn Đ 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15/7/2019 Tòa án nhân dân thành phố Huế nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Xét Bản án sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 01/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 01 năm tù 03 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xuất trình được tình tiết là có nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho anh Mai Văn Đáp. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm nên đề nghị HĐXX xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ cào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

N ẬN ĐỊN

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau

[1] Đã có cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/10/2018 Trần Văn Đ có giấy phép lái xe hàng A1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 75F1-601.48 lưu thông trên đường Đinh Tiên Hoàng hướng từ cầu Bạch Yến đến Cầu Kho. Khi đi đến cột điện số 11 đường Đinh Tiên Hoàng (thuộc phường Thuận Lộc, thành phố Huế) bị cáo đã điều khiển xe môtô vượt xe cùng chiều không an toàn nên đã tông vào xe môtô 76 F1-1963 do anh Mai Văn Đáp điều khiển đi theo hướng ngược lại gây tai nạn. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, làm anh Mai Văn Đáp tổn hại sức khỏe với tỷ lệ 78%, vi phạm vào Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.

Với hành vi trên,Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xét xử bị cáo Trần Văn Đ về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đảm bảo đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khỏe và tài sản của bị hại nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng để phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù, đồng thời không cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp. Tuy nhiên vào ngày 04/10/2019 bị cáo Trần Văn Đ nộp tại Tòa án biên lai nộp 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế- đây là tình tiết mới nên cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đề nghị tại phiên tòa là đúng pháp luật.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do tại cấp phúc thẩm bị cáo Trần Văn Đ đã nộp thêm tiền bồi thường thiệt hại về dân sự cho bị hại là anh Mai Văn Đáp số tiền 10.000.000 đồng nên cần phải sửa lại án phí dân sự cho phù hợp. Cụ thể: ( 68.440.464 đồng-10.000.000 đồng = 58.440.464 đồng X 5%)= 2.922.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

ĐỊN

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

1.Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 01/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015; Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 01 năm tù về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ không phải chịu.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 2.922.000 đồng

3.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ