vanban.org

Bản án 144/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D đối với bị đơn ông Lê Minh H.

1. Buộc ông Lê Minh H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thanh D số tiền 25.000.000 đồng. 2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án the… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ông Nguyễn Thanh D - Tranh chấp hợp đồng vay- ông Lê Minh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D đối với bị đơn ông Lê Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2026/DS-ST
Ngày 25-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhậm

2. Bà Nguyễn Thị Bạch Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 508/2026/TLST- DS ngày 14 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2026/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1968.

Địa chỉ: 3, Ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Ông Lê Minh H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: 2 Quốc lộ A, phường L, tỉnh Tây Ninh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị B, sinh năm 1978.

Địa chỉ: ấp S, xã M, tỉnh Đồng Tháp.

(Tất cả đương sự có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 4 năm 2026 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D trình bày:

Ngày 30/11/2024 ông Lê Minh H có vay của ông số tiền 50.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Việc vay tiền được lập thành văn bản có chữ ký của ông H, thời hạn trả là ngày 15/12/2024. Tuy nhiên khi đến hạn, mặc dù ông nhiều lần yêu cầu ông H trả nợ nhưng ông H không trả nợ cho ông. Vì vậy, nay ông cầu ông H trả cho ông 50.000.000 đồng tiền vay.

Ông xác định đầu tiên ông H có đề nghị mượn 100.000.000 đồng, do ông không có tiền, phải đi vay dùm từ người khác, khi đó phải trừ lại lãi là 15.000.000 đồng, ông đưa ông H 85.000.000 đồng, trừ tiền xe vận chuyển cho ông H 5.000.000 đồng, còn đưa 80.000.000 đồng cho ông H. Ông không có nhận số tiền tổng cộng 75.000.000 đồng như ông H trình bày, chỉ nhận một lần 40.000.000 đồng từ bà B và ông H cùng có mặt đưa và nhiều lần tổng khoảng 13.000.000 nên ông đã yêu cầu ông H làm giấy nợ là 50.000.000 đồng. Nay ông yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ trả lại 50.000.000 đồng. Ông không đồng ý theo phương thức trả dần của ông H.

* Bị đơn ông Lê Minh H trình bày: Ông và bà Đoàn Thị B (trước đây là vợ chồng) có vay của ông Nguyễn Thanh D 100.000.000 đồng, thời hạn vay 20 ngày với lãi suất 20.000.000 đồng. Sau khi vay ông có trả cho ông D 40.000.000 đồng tiền gốc và 35.000.000 đồng tiền lãi. Việc trả lãi và gốc là do bà B trực tiếp trả cho ông D, ông không có lập biên nhận gì. Giấy nợ ngày 31/12/2024 là do ông D ép buộc ông ký tên tại tỉnh Sóc Trăng (cũ), chữ ký và chữ viết Lê Minh H là do ông viết và ký tên. Ông không biết ông D tính toán thế nào để ra số tiền 50.000.000 đồng. Nay ông D yêu cầu ông trả 50.000.000 đồng ông không đồng ý vì ông vay 100.000.000 đồng, ông đã trả số tiền gốc và lãi tổng cộng 75.000.000 đồng, ông chỉ đồng ý trả cho ông D số tiền nợ còn lại là 25.000.000 đồng. Tuy nhiên do điều kiện khó khăn ông xin trả dần trong 12 tháng cho đến khi hết số nợ 25.000.000 đồng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị B trình bày: Bà thừa nhận có nhận số tiền 55.000.000 đồng từ ông Lê Minh H để trả cho ông Nguyễn Thanh D, bà xác định đã giao hết số tiền 55.000.000 đồng cho ông D, bà không có giữ số tiền nào.

Tại phiên tòa, các bên đương sự đã thống nhất: Ông Nguyễn Thanh D đồng ý cho ông Lê Minh H trả số tiền 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ông D chỉ yêu cầu riêng ông H trả, không yêu cầu bà B liên đới.

Tuy nhiên về phương thức trả trả nợ thì không thống nhất, ông H yêu cầu được trả dần trong 12 tháng đến khi hết số nợ 25.000.000 đồng, ông D không đồng ý.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Hội đồng xét xử đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo qui định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D, buộc bị đơn ông Lê Minh H trả 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Buộc ông H trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Thanh D nộp đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Lê Minh H có địa chỉ cư trú tại phường L, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh.

Về nội dung vụ án:

Về xem xét yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa ông Nguyễn Thanh D và ông Lê Minh H đã thống nhất ông H có nghĩa vụ trả cho ông D số tiền 25.000.000 đồng nên cần công nhận sự thỏa thuận về trả số tiền nợ gốc.

Về tính lãi: Ông D không có yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm liên đới: Ông D chỉ yêu cầu riêng ông H trả số nợ 25.000.000 đồng, không có yêu cầu bà B phải liên đới.

Về phương thức trả nợ: Ông D yêu cầu ông H trả số tiền 25.000.000 đồng, yêu cầu trả 01 lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông H có đề nghin xin trả dần trong 12 tháng nhưng ông D không đồng ý. Xét thấy, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ông D từ tháng 12 năm 2024 nên cần buộc ông H phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ cho ông D một lần theo quy định.

Về án phí: bị đơn ông Lê Minh H phải chịu 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh D được hoàn lại toàn bộ tạm ứng án phí.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D đối với bị đơn ông Lê Minh H.

1.1. Buộc ông Lê Minh H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thanh D số tiền 25.000.000 đồng.

1.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Ông Lê Minh H phải chịu 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho ông Nguyễn Thanh D 1.250.000 đồng theo biên lai 0010160 ngày 12/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ