- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe số 330127010232 mang tên D, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2023/HS-ST |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bấm
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2023/QĐXXST-HS ngày háng năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 317/2023/HSST-QĐ ngày tháng năm 2023 đối với bị cáo:
D, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1994 tại Hưng Yên. Nơi đăng ký thường trú: Thôn Ph, xã M huyện Ph, tỉnh H; nơi cư trú: Số dãy bờ mương, phường Đ, quận Ng, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Thôn và bà Trương Thị Xồi; có vợ là Nguyễn Thị Hiền và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; D được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17 tháng 3 năm 2023; có mặt.
- Bị hại:
1. Chị Phạm Thị N, đã chết; người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1955; nơi cư trú: Thôn Y, xã L, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; vắng mặt;
2. Chị Hoàng Thị Hà Ph, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số , phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, D cùng Phạm Thị Nam và bạn của DD có tham gia sinh nhật của DD. Tại buổi liên hoan sinh nhật DD có sử dụng rượu, bia cùng mọi người. Khoảng 00 giờ 27 phút ngày 16/02/2023, DD điều khiển xe mô tô BKS: 89G2-014.41 chở phía sau chị Nam đi ở làn đường hỗn hợp trên đường Lê Hồng Phong hướng từ cầu vượt Lê Hồng Phong về ngã 6 Lạc Viên. Khi đi đến khu vực ngã tư cạnh tòa nhà Madelise đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng thì DD tăng tốc độ vượt 01 xe mô tô đi phía trước, cùng chiều và khi qua ngã tư thấy chị Hoàng Thị Hà Phương điều khiển xe mô tô BKS: 36B8-741.82 từ đường Lô 3C Lê Hồng Phong đi ra và dừng xe ở vị trí cách vạch kẻ sơn dành cho người đi bộ khoảng 7m. DD không làm chủ được tốc độ, phanh gấp và đánh lái xe sang phải làm xe trượt đổ ngã xuống đường rồi va chạm vào xe mô tô của chị Phương dẫn đến tai nạn. Hậu quả: chị Nam bị thương tích nặng tử vong tại hiện trường, DD và chị Phương bị thương tích, 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:
- Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại khu vực ngã tư tòa nhà Madelise đường Lê Hồng Phong chiều đi từ cầu vượt Lê Hồng Phong về ngã 6 Lạc Viên. Tuyến đường Lê Hồng Phong có hai chiều xe chạy, có dải phân cách cứng dạng bó vỉa, trồng cây ở giữa đường. Trên tuyến có đầy đủ hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu thời điểm xảy ra tai nạn chuyển nháy vàng. Hệ thống biển báo, vạch sơn kẻ đường, mặt đường được trải nhựa áp phan bằng phẳng.
Xác định điểm mốc và mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Xác định biển cấm P102 làm điểm mốc cố định; xác định mép đường bên phải theo chiều đi từ cầu vượt Lê Hồng Phong về ngã 6 Lạc Viên làm đường chuẩn.
- Vị trí số 1: Dấu vết phanh mài miết màu đen dài 6,4m; đo từ đầu dấu vết vuông góc với đường làm chuẩn là 3m; đo đến điểm cố định là 21,3m; đo đến cuối vết vuông góc với đường chuẩn là 2,5m; đầu dấu vết đo đến điểm đầu dấu vết cày xước số 2 là 4,3m.
- Vị trí số 2: Dấu vết cày, xước dạng đứt đoạn dài 17,5m hướng về xe mô tô BKS:36B8-741.82 điểm cuối giá để chân bên phải phía sau; đo từ đầu dấu vết vuông góc với đường chuẩn là 2m; đo tới đầu vết số 1 là 4,3m; đo đến điểm mốc cố định là 15,5m.
- Vị trí số 3: Dấu vết tạp chất màu nâu đen dài 1,2m và hằn lõm trên đường chuẩn kéo dài; đo từ đầu dấu vết đến điểm chuẩn là 10,7m.
- Vị trí số 4: Đám tạp chất màu nâu đỏ, chất sinh học dưới dạng bắn vương vãi trên diện (4x0,8)m có hướng về tử thi; đo từ đầu dấu vết đến đầu tử thi là 4m; đo vuông góc với đường chuẩn là 0,54m; đo đến điểm mốc cố định là 10m.
- Vị trí số 5: Dấu vết cày, xước dạng đứt đoạn, điểm cuối dấu vết là đến vị trí giá để chân phía sau bên trái xe mô tô BKS: 36B8-741.82; đo từ đầu dấu vết vuông góc với đường chuẩn là 0,62m; đo đến điểm mốc cố định là 10,7m.
- Vị trí số 6: Tử thi Phạm Thị Nam tư thế nằm ngửa, đầu hướng về cầu vượt Lê Hồng Phong còn chân hướng về ngã 6 Lạc Viên; tử thi bị chấn thương vùng đầu; đo từ đầu tử thi vuông góc với đường chuẩn là 1,4m; đo đến điểm mốc cố định là 11m; đo đến tâm bánh sau xe mô tô BKS:89G2-014.41 là 2,8m.
- Vị trí số 7: Xe mô tô BKS: 89G2-014.41 đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng về cầu vượt Lê Hồng Phong còn đuôi xe hướng về ngã 6 Lạc Viên. Đo từ tâm trục bánh xe trước đến điểm mốc cố định chuẩn là 13,5m; đo đến đầu tử thi là 2,5m.
- Vị trí số 8: Xe mô tô BKS: 36B8-741.82 đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng về lô 3C Lê Hồng Phong còn đuôi xe hướng ra ngã tư đường Lê Hồng Phong. Đo từ tâm trục bánh xe trước vuông góc với đường chuẩn là 0,7m; đo đến điểm mốc cố định là 15,8m; đo đến tâm trục bánh xe trước xe mô tô 89G2-014.41 là 3,4m. Đo từ trục bánh sau vuông góc với đường chuẩn là 0,6m; đo đến trục bánh sau xe mô tô 89G2-014.41 là 2m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn đen, BKS: 89G2-014.41 không có gương, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu trước và sau đầy đủ, ghi nhận các dấu vết có liên quan:
+ Cánh yếm bên phải có vết cày xước, bám dính tạp chất màu trắng; dấu vết có diện (6x3,5)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 81,8cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
+ Đầu mỏm tay phanh bên phải có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại; dấu vết trên diện (1,3x1,3)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 90,3cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
+ Ốp nhựa mặt đồng hồ phía trước góc bên phải, bên trái có dấu vết nứt, vỡ cày xước bề mặt lần lượt:
Góc bên phải trước hộp dầu phanh có dấu vết nứt, vỡ trên diện (1,5x0,2)cm; điểm thấp nhất cách mặt đất là 104cm. Vết cày xước lần lượt có diện (1,5x2,6)cm; điểm thấp nhất cách mặt đất là 102,5cm. Vết tiếp theo có diện (1x0,4)cm; điểm thấp nhất cách mặt đất là 105,8cm. Dấu vết có hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.
Góc bên trái phần cụm gương bên trái có dấu vết nứt, vỡ và bẹp lõm trên diện (9x6,5)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 104,5cm; dấu vết có hướng xô đẩy, bẹp lõm từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.
Ốp nhựa xung quanh mặt đồng hồ có dấu vết nứt, vỡ bật chốt định vị trên diện (23x9)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 94cm; dấu vết tạo khe hở lớn nhất là 5cm.
+ Cần gương bên trái bị cong vênh, biến dạng hướng từ trước về sau, từ trái qua phải. Mặt gương không thu hồi được. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 103cm.
+ Đầu mỏm tay điều khiển bên phải có dấu vết cày xước bề mặt nhựa trên diện (1,2x1,1)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 95,5cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.
+ Mặt ngoài nhựa giá để chân người điều khiển bên phải có dấu vết cày xước bề mặt trên diện (3,5x2,5)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 22,5cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
+ Giá để chân bên phải người ngồi sau có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại trên diện (1,4x7,7)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 41,2cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
+ Mặt ngoài bảo vệ ống xả có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt nhựa trên diện (41x9,5)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 26cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới.
+ Mặt ngoài bên phải tay quay xe phía sau có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại ốp nhựa trên diện (2,9x0,7)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 84,7cm.
+ Ốp nhựa giá để chân người điều khiển bên trái bị vỡ mất mảnh không thu hồi được trên diện (32x11)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 27,7cm.
- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu sơn xanh đỏ đen, BKS: 36B8-741.82 có 01 gương, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu trước và sau đầy đủ; ghi nhận các dấu vết có liên quan:
+ Đầu ốc bên trái trục bánh trước có dấu vết hằn lõm bề mặt kim loại trên diện (0,6x0,3)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 27cm; bên trên bề mặt có bám dính tạp chất màu trắng, hướng dấu vết từ dưới lên trên.
+ Đầu mỏm giảm sóc bên trái bánh trước có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại trên diện (2,1x0,7)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 20,7cm; bên trên bề mặt có bám dính tạp chất màu trắng, hướng dấu vết từ dưới lên trên.
+ Cụm gương bên trái bị cong vênh biến dạng nứt vỡ, cày xước bề mặt. Nứt vỡ mặt gương trên diện (14,5x6)cm; điểm thấp nhất cách mặt đất là 103,5cm. Cày xước trên diện (2,5x1,5)cm; điểm thấp nhất cách mặt đất là 110,5cm. Hướng dấu vết từ trước về sau, từ dưới lên trên, từ trái qua phải.
+ Đầu mỏm tay phanh bên trái có dấu vết cày xước trên diện (0,7x0,6)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 96,7cm; hướng dấu vết từ trái qua phải, từ trước về sau.
+ Đầu mỏm tay điều khiển bên trái có dấu vết hằn lõm bề mặt trên diện (1,1x0,4)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 106 cm; hướng dấu vết từ trước về sau, từ dưới lên trên.
+ Ốp chắn bùn phía trước bên trái bị bật chốt định vị tạo khe hở lớn nhất là 1,1cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 56,5cm.
+ Ốp sườn xe, thân xe bên trái có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt nhựa trên diện (15x3)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 68cm; hướng dấu vết từ dưới lên trên.
+ Cần gạt chân chống giữa có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại trên diện (24,5x8)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 1cm; hướng dấu vết từ dưới lên trên.
+ Mặt ngoài ốp máy bên trái có dấu vết hằn lõm bề mặt kim loại trên diện (0,4x1,6)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là9,91cm; hướng dấu vết trái sang phải.
+ Tay quay xe bên phải có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại trên diện lần lượt (1,2x0,4)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 83cm; hướng dấu vết từ trái sang phải. Vết thứ hai trên diện (3,2x0,9)cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất là 89,5cm; hướng dấu vết từ trái sang phải.
Kết quả khám nghiệm tử thi:
- Các Dấu vết thương tích của nạn nhân:
+ Vết thương rách da vùng giữa trán kích thước (5x5)cm cách gót chân 145cm để lộ xương trán vỡ. Vết thương rách da vùng trán đỉnh trái kích thước (9x4)cm cách gót chân 148 cm, khuyết xương hộp sọ vùng đỉnh trái để lộ tổ chức não. Vết xây xước da vùng đuôi cung mày trái kích thước (3x1,5)cm. Vết thương rách da góc trong mắt trái kích thước (2,5x1)cm, cách gót chân 143,5cm. Kiểm tra thấy gãy xương sống mũi, gãy xương hàm trên đường gãy đi qua răng cửa.
+ Vết xây xước da mặt sau cổ tay phải kích thước (0,3x0,3)cm, vết xây xước da mu bàn tay phải, mu kẽ ngón 2,3 kích thước (0,3x0,4)cm.
+ 03 vết xây xước da mu bàn tay trái trên diện (3,5x1)cm. Vết xây xước da gan bàn tay trái kích thước (1x1)cm. Nhiều vết xây xước da mu các ngón 2,3,4,5 bàn tay trái trên diện (7x2,5)cm.
+ Vết xây xước da mặt trước gối phải kích thước (7x3)cm.
+ Vết xây xước da mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái kích thước (1x0,7)cm và mắt cá trong chân trái kích thước (2x1)cm.
- Tại bản kết luận giám định về pháp y số 34/2023/TT ngày 17/02/2023 của Trung tâm giám định pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Phạm Thị Nam, Sinh năm 1977 bị chết vì chấn thương sọ não nặng.
- Tại bản kết luận giám định hóa pháp số 237/PY-XNĐH ngày 03/3/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: Mẫu máu của D gửi giám định có Ethanol, nồng độ 132,1mg/100ml máu. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của D.
Tại bản kết luận giám định số 289/KL-KTHS(KTS) ngày 23/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng đối với 01 tập tin video chứa trong 01 USB nhãn hiệu KINGSTON 2G gửi giám định ghi nhận được nội dung vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra khoảng 00 giờ 27 phút ngày 16/02/2023 tại khu vực ngã tư tòa nhà Madelise, Đông Khê, Quận Ngô Quyền kết luận: 01 tập tin video có phần mở rộng “mp4” tổng dung lượng 112MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu KINGSTON 2GB đã qua sử dụng không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.
Xác minh xe mô tô BKS: 89G2-014.41, đăng ký xe mang tên D. Xe mô tô BKS: 36B8-741.82 đăng ký xe mang tên chị Hoàng Thị Hà Phương.
Qua xác minh tại Sở Giao thông Vận tải tỉnh Hưng Yên và Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thanh Hóa: Ngày 10/8/2016, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Hưng Yên cấp Giấy phép lái xe hạng A1 số 330127010232 cho D. Ngày 14/12/2016, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy phép lái xe hạng A1 số 381166024443 cho chị Hoàng Thị Hà Phương.
Tại bản kết luận giám định số 299/KL-KTHS(SK,SM) ngày 10/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng: Xe mô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA mang BKS:89G2-014.41 có số khung RLHJK1402NZ238482 và số máy JK14E-0099153 là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Xe mô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA mang BKS: 36B8-741.82 có số khung RLHJK0324NZ025448 số máy JK03E-7644911 là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự.
Tại Cơ quan điều tra, D khai nhận đúng với nội dung nêu trên, lời khai nhận tội của DD phù hợp nội dung biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của ghi lời khai người liên quan, người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô BKS:89G2-014.41 cùng giấy tờ xe có liên quan cho D và xe mô tô BKS: 36B8-741.82 cùng giấy tờ xe có liên quan cho chị Hoàng Thị Hà Phương.
- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự 01 giấy phép lái xe mang tên D.
Về trách nhiệm dân sự:
- D đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho gia đình chị Nam; gia đình chị Nam có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho DD.
- Chị Hoàng Thị Hà Phương khi xảy ra tai nạn chỉ xây xước ngoài da, xe mô tô của chị chỉ hư hỏng nhẹ nên không đề nghị giám định tương tích và giám định thiệt hại đối với xe mô tô, không yêu cầu DD phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.
Cáo trạng số 129/CT-VKSNQ ngày 03/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về vật chứng vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô BKS:89G2-014.41 cùng giấy tờ xe có liên quan cho D và xe mô tô BKS: 36B8-741.82 cùng giấy tờ xe có liên quan cho chị Hoàng Thị Hà Phương.
Do là tài sản riêng của bị cáo nên trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe số 330127010232 mang tên D theo điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho gia đình chị Nam; gia đình chị Nam có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo DD.
Chị Hoàng Thị Hà Phương khi xảy ra tai nạn chỉ xây xước ngoài da, xe mô tô của chị chỉ hư hỏng nhẹ nên không đề nghị giám định tương tích và giám định thiệt hại đối với xe mô tô, không yêu cầu DD phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại: Tại phiên tòa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đều vắng mặt không có lý do nhưng trước đó tại Cơ quan điều tra họ đã có lời khai thể hiện quan điểm và việc bồi thường đã giải quyết xong nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo các điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
+ Về căn cứ xác định bị cáo có tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, lời khai thể hiện: Khoảng 00 giờ 27 phút ngày 16/02/2023, DD điều khiển xe mô tô BKS: 89G2-014.41 chở phía sau chị Nam đi trên đường Lê Hồng Phong hướng từ cầu vượt Lê Hồng Phong về ngã 6 Lạc Viên. Khi đi đến khu vực ngã tư cạnh tòa nhà Madelise. DD tăng tốc độ vượt 01 xe mô tô đi phía trước, cùng chiều thấy chị Hoàng Thị Hà Phương điều khiển xe mô tô BKS: 36B8-741.82 từ đường Lô 3C Lê Hồng Phong đi ra và đang dừng ở vị trí giao với đường Lê Hồng Phong. Do uống rượu bia và vượt trái với tốc độ cao ở nơi đường giao nhau nên DD không làm chủ được tốc độ phanh gấp, đánh lái xe sang phải làm xe trượt đổ ngã xuống đường rồi va chạm vào xe mô tô của chị Phương dẫn đến tai nạn. Hậu quả chị Nam bị thương tích nặng tử vong tại hiện trường, DD và chị Phương bị thương tích, 02 xe mô tô bị hư hỏng. Tại Kết luận giám định pháp hoá số 237/PY-XNĐH ngày 03/33/2023 của Viện Pháp y Quân đội-Cục Quân y kết luận: Mẫu máu của bị cáo có Ethanol, nồng độ 132,1ml/100ml máu.
Bị cáo D đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia) và điểm d khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
+ Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; gia đình bị hại có đơn xin miễm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng do sự việc phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại nên không có cơ sở miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhưng cũng cần xem xét yêu cầu này và các tình tiết giảm nhẹ khác nêu trên để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình hình vi phạm an toàn giao thông trên địa bàn thành phố mặc dù đã được tăng cường các biện pháp tuyên truyền, xử lý nghiêm khắc nhưng vẫn diến biến phức tạp, để lại những hậu quả to lớn cho gia đình và xã hội, mà nguyên nhân hàng đầu phát sinh từ việc sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian và cũng có thể xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, theo quy định khoản 1 Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp ngăn chặn: Để đảm bảo thi hành án khi bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên cần cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù theo khoản 1 Điều 109 và khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô BKS:89G2-014.41 cùng giấy tờ xe có liên quan cho D và xe mô tô BKS: 36B8-741.82 cùng giấy tờ xe có liên quan cho chị Hoàng Thị Hà Phương theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Do là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe số 330127010232 mang tên D theo điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo D đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho gia đình chị Nam, gia đình chị Nam không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị Hoàng Thị Hà Phương khi xảy ra tai nạn chỉ xây xước ngoài da, xe mô tô của chị chỉ hư hỏng nhẹ nên không đề nghị giám định tương tích và giám định thiệt hại đối với xe mô tô, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 109 và khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt: D 30 (ba mươi) tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe số 330127010232 mang tên D, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật đối với bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đều có quyền kháng cáo.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an Quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS Quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Q. Ngô Quyền; - PV06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |