vanban.org

Bản án 144/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 2 Điều 323; Điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn T A1;

Xử phạt: Đào Văn A 40 (Bốn mươi) tháng tù, về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022. Xử phạt: Nguyễn T A1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng cho hưởng án treo thời giA thử thách 60 tháng kể từ ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuấn Anh + An - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 2 Điều 323; Điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn T A1;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
SÓC SƠN - TP.HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:144/2023/HS-ST
Ngày 25/07/2023

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu TrAg – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:124/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 06 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2023QĐXXST-HS ngày 28 tháng 06 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Hä vµ tªn: Đào Văn A, sinh n¨m 1996. §KHKTT vµ n¬i ë: th«n X D, xã K L, H.Sãc S¬n , TP.Hµ Néi; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn L và bà Nguyễn Thị B; Vợ: Nguyễn Thị Hồng H; con: chưa; Tiền án, tiền sự: Tiền án: Bản án số 59 ngày 18/5/2016, bị TAD huyện Sóc Sơn xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điều 251 Bộ luật hình sự), chưa được xóa án tích. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công A thành phố Hà Nội. Số giam 432C2/B2. Có mặt tại phiên tòa

2. Hä vµ tªn: Nguyễn T A1, sinh năm 1998; §KHKTT vµ n¬i ë: Khu a, phường Đ Ph, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị H1 ; Vợ, Nguyễn Thị V; con: chưa; Tiền án: không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công A thành phố Hà Nội. Số giam 433C2/B17. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ lien quA:

1. Chị Nguyễn Thị Ngọc A2, sinh năm 1999(Vắng mặt)

Địa chỉ: B CH, xã H S, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

2. Chị Lê Thị LA, sinh năm 2003(Vắng mặt)

Địa chỉ: Phố C, thị trấn V D, huyện thạch Thành, tỉnh ThAh Hóa.

3. Chị Nguyễn Thị Hồng Hạnh, sinh năm 2002(Vắng mặt)

Địa chỉ: th«n X D, xã K L, H.Sãc S¬n , TP.Hµ Néi

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn T A1 là ông Hoàng Ngọc Th B và ông Đặng Văn S - thuộc văn phòng luật sư Đặng Sơn và cộng sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1998

Địa chỉ: Khu 7, phường Đ Ph, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 ngày 27 tháng 12 năm 2022, tổ công tác đội hình sự, công A huyện Sóc Sơn phối hợp với Công A xã K L tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã K L phát hiện 01 ô tô tải, nhãn hiệu DONGBEN, màu bạc, biển kiểm soát 29H - 179.77 do Nguyễn T A1, sinh năm 1998, trú tại phường Đ Ph, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên đã cho dừng xe ô tô trên và tiến hành kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện trên thùng xe có 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, 01 chiếc màu trắng, có biển kiểm soát 12T1 – 243.22 và 01 chiếc xe máy SH màu đen có biển kiểm soát 36E1 – 479.29 nghi vấn đây là xe bất hợp pháp, T A1 không xuất trình được giấy tờ nguồn gốc xe đồng thời T A1 khai hai chiếc xe trên được PhA Duy Hải, sinh năm 1995, trú tại thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thuê cầm tiền đến gặp các đối tượng ở thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội trong đó có Đào Văn A, sinh năm 1996, trú tại thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội bán để mua hai chiếc xe chở về giao cho PhA Duy Hải, Hải trả công 500.000đ. Trên cơ sở lời khai của T A1, Cơ quA điều tra tiến hành triệu tập A, A khai nhận hai chiếc xe bán cho T A1 là xe do trộm cắp mà có. Cơ quA điều tra đã tiến hành bắt giữ A và T A1 cùng tAg vật, đưa về trụ sở cơ quA công A để điều tra làm rõ

Quá trình điều tra làm rõ:

Sáng ngày 27/12/2022, PhA Duy Hải, sinh năm 1995, trú tại thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh liên lạc với Nguyễn T A1, thuê T A1 sAg thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội để trả tiền và chở 02 chiếc xe máy do các đối tượng trộm cắp bán cho Hải về huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hải chuyển khoản vào số tài khoản 0869.121.998 ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam của T A1 số tiền 57.500.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) để T A1 trả tiền mua 02 xe máy và bảo T A1 liên lạc số điện thoại 0382.621.602 (là số điện thoại của Đào Văn A) để lấy xe. Tại thời điểm đó, tại thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Đào Văn A được Nguyễn Công Cường (còn gọi là Cường Hào), sinh năm 1995 và Nguyễn QuAg Cường (còn gọi là Cường Kỳ), sinh năm 1986 là người cùng thôn X D nhờ cùng đem bán 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH do trộm cắp mà có. Cường Kỳ đưa cho A số điện thoại 0869121998 (tức số của T A1) là số điện thoại để liên hệ và hẹn nơi giao xe, A liên hệ theo số điện thoại, hẹn giao xe ở bãi cát, xóm Bèo, thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. A điều khiển xe máy Honda SH màu trắng, Cường Hào điều khiển xe máy Honda SH màu đen, đi đến điểm hẹn giao xe. T A1 điều khiển xe ô tô tải có thùng kín, nhãn hiệu Dongben, màu bạc, BKS: 29H-179.77 đến nhận xe. Sau khi nhận xe, A bảo T A1 chuyển số tiền 57.500.000đ từ tài khoản 0869121998 ngân hàng Hàng Hải MSB của T A1 số tài khoản 868610022002 của ngân hàng MB BAk, mAg tên Nguyễn Thị Hồng Hạnh (là vợ của A) số tiền 57.500.000 đồng. Cường Kỳ và Cường Hào thỏa thuận cho A 7.500.000đ nên A bảo vợ chuyển 50.000.000 đồng vào số tài khoản 0354048674 (MB BAk) của A để trả cho Cường Kỳ và Cường Hào nhưng chưa kịp chuyển. Sau khi bán xe xong thì Cường Kỳ đưa thêm cho A 1.000.000 đồng, tiền công bán xe.

Về nguồn gốc tài sản: Chiếc xe Honda SH BKS: 12T1-243.22 là tài sản của chị Nguyễn Thị Ngọc A2 (sinh năm 1999, trú tại B CH, xã H S, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn), chị A2 bị kẻ giA trộm cắp chiếc xe trên ngày 26/12/2022 tại sảnh chung cư A Bình, số 234 đường Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm; chiếc xe Honda BKS: 36E1-479.29 là tài sản của chị Lê Thị LA (sinh năm 2003, trú tại Phố C, thị trấn V D, huyện Thạch Thành, tỉnh ThAh Hóa). Chị LA bị kẻ giA trộm cắp chiếc xe trên vào ngày 26/12/2022 tại Villa D5 The MAor, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Tại Bản kết luận định giá số 410 ngày 29/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125I, màu trắng đen mAg BKS 12T1-243.22 có giá 68.500.000đ; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125I màu đen mAg BKS: 36E1-479.29 có giá 75.000.000đ. Tổng giá trị tài sản các bị cA tiêu thụ là 143.500.000đ (Một trăm bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quA điều tra, Nguyễn T A1 và Trần Văn A thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 14 tháng 06 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn T A1 và Đào Văn A về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi đúng như Bản cáo trạng dã truy tố, các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đA2 giá các chứng cứ, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giữ nguyên quA điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng:

Điểm c khoản 2 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Văn A;

Điểm c khoản 2 Điều 323; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn T A1; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự

Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30.12.2016 của Ủy bA thường vụ Quốc Hội:

- Xử phạt: Đào Văn A mức án từ 42 đến 48 tháng tù, về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.

- Xử phạt: Nguyễn T A1 mức án 36 tháng tù, về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”. Nhưng cho hưởng án treo, thời giA thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đAg bị tạm giam, nếu bị cáo T A1 không bị tạm giam về một tội phạm khác .

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về dân sự: Chị Lê Thị LA và chị Nguyễn Thị Ngọc A2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda SH 125i, màu đen, BKS: 36E1-479.29, Cơ quA điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị LA, sinh năm 2003, trú tại phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Cơ quA điều tra đã trả lại chị LA chiếc xe trên.

Đối với 01 xe mô tô Honda SH 125i, màu trắng đen, BKS: 12T1-243.22,l Cơ quA điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Ngọc A2, sinh năm 1999, trú tại phường xã H S, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quA điều tra đã trả lại chị A2 chiếc xe trên.

+ Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Samsung; 01 điện thoại Iphone màu đen; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen và số tiền 58.500.000đ.

+ Trả lại cho chị Nguyễn Thị V 01 chiếc xe ô tô tải, loại thùng kín, nhãn hiệu DONGBEN, màu bạc, BKS: 29H-179.77.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên Công A huyện Sóc Sơn đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, đương sự không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở để xác định:

Sáng ngày 27/12/2022, PhA Duy Hải, sinh năm 1995, trú tại thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh liên lạc qua điện thoại với Nguyễn T A1, thuê T A1 sAg thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội để trả tiền và chở 02 chiếc xe máy do các đối tượng trộm cắp bán cho Hải về huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hải chuyển khoản số tiền vào số tài khoản 0869.121.998 ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam của T A1 số tiền 57.500.000 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) để T A1 trả tiền mua 02 xe máy và bảo T A1 liên lạc số điện thoại 0382.621.602 (là số điện thoại của Đào Văn A) để lấy xe.

Sau khi hẹn địa điểm giao nhận xe ở bãi cát, xóm Bèo, thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. A điều khiển xe máy Honda SH màu trắng, Cường Hào điều khiển xe máy Honda SH màu đen, đi đến điểm hẹn giao xe. T A1 điều khiển xe ô tô tải có thùng kín, nhãn hiệu Dongben, màu bạc, BKS: 29H-179.77 đến nhận xe. Sau khi giao nhận xe, A bảo T A1 chuyển số tiền 57.500.000đ từ tài khoản 0869121998 ngân hàng Hàng Hải MSB của T A1 vào số tài khoản 868610022002 của ngân hàng MB BAk, mAg tên Nguyễn Thị Hồng Hạnh (là vợ của A). Cường Kỳ và Cường Hào thỏa thuận cho A 7.500.000đ, ngoài ra sau khi bán xe xong thì đưa thêm cho A 1.000.000 đồng, tiền công bán xe, nên A bảo vợ chuyển 50.000.000 đồng vào số tài khoản 0354048674 (MB BAk) của A để trả cho Cường Kỳ và Cường Hào nhưng chưa kịp chuyển thì bị Cơ quA điều tra Công A huyện Sóc Sơn bắt giữ người cùng tAg vật.

Tại Bản kết luận định giá số 410 ngày 29/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125I, màu trắng đen mAg BKS 12T1-243.22 có giá 68.500.000đ; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125I màu đen mAg BKS: 36E1-479.29 có giá 75.000.000đ. Tổng giá trị tài sản các bị cáo tiêu thụ là 143.500.000đ (Một trăm bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Do vậy đủ căn cứ xác định Đào Văn A và Nguyễn T A1 có hành vi tiêu thụ 02 chiếc mô tô SH 125i là tài sản do ngời khác trộm cắp mà có, trị giá 143.500.000đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo chẳng những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ còn gây mất trật tự trị A xã hội trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, có nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam, tư lợi nên bị cáo đã cố tình phạm tội. Do đó việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu trAh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tính chất của vụ án, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Bị cáo T A1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Bị cáo Đào Văn A có nhân thân xấu; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59 ngày 18/5/2016, bị TAD huyện Sóc Sơn xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điều 251 Bộ luật hình sự), Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy đối với bị cáo A Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt tù cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn T A1 nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức chở thuê cho PhA Duy Hải nhằm mục đích hưởng lợi khi được Hải trả tiền công. Theo hướng dẫn giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ tại Công văn số 01/2017/GĐ-TADTC ngày 07/04/2017 của Tòa án nhân dân tối cao. Sau khi xem xét tính chất vụ án, nhân thân và vai trò của bị cáo T A1 trong vụ án thấy bị cáo có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án. Do vậy thỏa mãn điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy đối với bị cáo Nguyễn T A1 Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo đAg bị tạm giam nên trả tự do cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo làm nghề tự do, có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về dân sự: Chị Lê Thị LA và chị Nguyễn Thị Ngọc A2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Quá trình bắt giữ các bị cáo và điều tra vụ án, Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A thành phố Hà Nội đã thu giữ các đồ vật, tài sản sau: 01 xe mô tô Honda SH 125i, màu đen, BKS: 36E1-479.29; 01 xe mô tô Honda SH 125i, màu trắng đen, BKS: 12T1-243.22; 01 chiếc xe ô tô tải, loại thùng kín, nhãn hiệu DONGBEN, màu bạc, BKS: 29H-179.77; 01 điện thoại di động Samsung; 01 điện thoại Iphone màu đen; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen và số tiền 58.500.000đ.

- Đối với 01 chiếc xe ô tô tải, loại thùng kín, nhãn hiệu DONGBEN, màu bạc, BKS: 29H-179.77 đăng ký măng tên Ngô Tiến Th. Năm 2022 chị V vay tiền mua xe với mục đích kinh doAh vận tải chở hàng thuê. Do vậy xác định chiếc xe ô tô tải là tài sản chung vợ chồng, mặc dù chưa sAg tên đổi chủ nhưng là tài sản hợp pháp của vợ chồng nên trả lại cho chị Nguyễn Thị V là phù hợp. Chị V sau khi nhận lại tài sản cần phải tiến hành làm thủ tục sAg tên theo quy định.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda SH 125i, màu đen, BKS: 36E1-479.29, Cơ quA điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị LA, sinh năm 2003, trú tại phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Cơ quA điều tra đã trả lại chị LA chiếc xe trên.

- Đối với 01 xe mô tô Honda SH 125i, màu trắng đen, BKS: 12T1-243.22,l Cơ quA điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Ngọc A2, sinh năm 1999, trú tại phường xã H S, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quA điều tra đã trả lại chị A2 chiếc xe trên.

+ Đối với vật chứng là điện thoại và tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội cho tịch thu sung công gồm: 01 điện thoại di động Samsung; 01 điện thoại Iphone màu đen; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen và số tiền 58.500.000đ.

- Đối với Nguyễn Thị Hồng Hạnh, sinh năm 2002, trú tại thôn X D, xã K L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (là vợ của A) là người cho A mượn số tài khoản 868610022002 để giao dịch mua bán xe, Hạnh không biết việc giao nhận tiền bằng số tài khoản trên là để giúp A thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quA điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

- Đối với PhA Duy Hải, là người thuê T A1 đi chở xe, Cơ quA điều tra đã triệu tập Hải để làm rõ vai trò tuy nhiên quá trình xác minh xác định hiện Hải đAg vắng mặt tại địa phương nên Hải chưa chấp hành việc triệu tập. Ngoài lời khai của T A1, không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh hành vi của Hải nên Cơ quA điều tra đã ra thông báo truy tìm Hải và ra quyết định tách tài liệu liên quA đến Hải để tiếp tục điều tra xử lý.

- Đối với vụ án Trộm cắp tài sản. Cơ quA điều tra đã triệu tập Nguyễn Công Cường, Nguyễn QuAg Cường để làm rõ vai trò tuy nhiên quá trình xác minh xác định hiện Nguyễn Công Cường, Nguyễn QuAg Cường đAg vắng mặt tại địa phương nên chưa chấp hành việc triệu tập. Ngoài lời khai của A, không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh hành vi của Nguyễn Công C, Nguyễn Quang C1. Do vậy Cơ quA điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Văn A.

- Điểm c khoản 2 Điều 323; Điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn T A1;

- Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30.12.2016 của Ủy bA thường vụ Quốc Hội:

- Xử phạt: Đào Văn A 40 (Bốn mươi) tháng tù, về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.

- Xử phạt: Nguyễn T A1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng cho hưởng án treo thời giA thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đAg bị tạm giam, nếu bị cáo T A1 không bị tạm giam về một tội phạm khác .

- Giao các bị cáo Nguyễn T A1 cho UBND phường Đ Ph, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời giA thử thách.

Trong thời giA thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.

- Về dân sự: Không đặt ra giải quyết.

- Về vật chứng: Trả lại cho chị Nguyễn Thị V 01 chiếc xe ô tô tải, loại thùng kín, nhãn hiệu DONGBEN, màu bạc, BKS: 29H-179.77; Số khung: CAB9J2107344, số máy AE6J05811953, đăng ký măng tên Ngô Tiến Th.

+ Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Samsung màu xAh; 01 điện thoại kiểu dáng Iphone Promax màu đen có IMEI 353902109454678; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen có IMEI 351546006700684.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 58,500,000đ (Năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).

- Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.

- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ