vanban.org

Bản án 144/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thành U phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thành U 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện LH nhận được quyết định thi hành án. Khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Lê Thành U số tiền 500.000đồng/thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THÀNH UT - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành U phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2023/HS-ST
Ngày: 31-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: -1/ Ông Ya Thuyên

- 2/ Ông Lê Văn Hoàng

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện V kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 140/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thành U, sinh năm 1981; nơi sinh: Bến Tre; nơi ĐKNKTT và cư trú: thôn 5, xã Đ Đ, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn 9/12; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: không; cha: Lê Văn V (đã mất); mẹ: Phạm Thị L (đã mất); anh chị em ruột có 06 người lớn nhất sinh năm 1957, nhỏ nhất là bị cáo; vợ: Lê Thị T, sinh năm 1982 (đã ly thân); con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền sự: không.

Tiền án: Bản án số 59/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH, Lâm Đồng xử phạt Lê Thành U số tiền 35.000.000đồng về tội Đánh bạc, bị cáo đã thi hành số tiền phạt và án phí vào ngày 05/8/2022.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:

- Bà Hoàng Thị Bích N, sinh năm 1989

Trú tại: thôn TB1, xã BT, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Bà Trần Thị Thu TR, sinh năm 1984

Trú tại: thôn KP, xã BT, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Bà Trần Thị Diễm C, sinh năm 1991

Trú tại: thôn TB2, xã BT, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 15 phU ngày 11/8/2022 Công an xã BT bắt quả tang tại nhà Hoàng Thị Bích N, sinh năm 1989, tại: TB1, BT, Đ, Lâm Đồng phát hiện Hoàng Thị Bích N, Lê Thành U, Trần Thị Diễm C và Trần Thị Thu TR đang đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tiến lên. Các đối tượng sử dụng loại bài tây 52 lá để đánh, luật chơi được các đối tượng thống nhất như sau: về nhất ăn 100.000đồng, về nhì ăn 50.000đồng, về ba thua 50.000đồng, về bét thua 100.000đồng, ai về ba bệnh ăn mỗi nhà 150.000đồng, quá trình chơi ai bị chặt heo đen thì thua 50.000đồng, heo đỏ thua 100.000đồng, ai bị nhốt thua 200.000đồng, bị thối heo đen thua 50.000đồng, thối heo đỏ thua 100.000đồng. Đây là sòng bạc tự phát, quá trình đánh bạc không có ai thu tiền xâu và không có người canh gác, các đối tượng tự thống nhất chơi với nhau. Sòng bạc này hoạt động từ khoảng 12giờ đến khi bị Công an bắt quả tang thu giữ số tiền tại sòng là: 4.900.000đồng (bốn triệu chín trăm ngàn đồng).

Quá trình trích lục tiền án, tiền sự của tất cả các đối tượng trên thì Lê Thành U có 01 tiền án về tội „đánh bạc‟ đã xét xử tại Bản án số 59/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH, đến ngày 05/8/2022 Lê Thành U mới thi hành xong bản án trên nên tại thời điểm bị bắt quả tang thì U chưa được xóa án tích. Vì vậy, hành vi của Lê Thành U đã phạm vào tội đánh bạc.

Tang vật của vụ án: tiền thu tại sòng: 4.900.000 đồng (bốn triệu chín trăm ngàn đồng); 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử sụng; 01 chiếu cói, 01 chăn mỏng.

Tiền thu trong người: Lê Thành U: 53.000đồng (năm mươi ba ngàn đồng). Hoàng Thị Bích N: 27.000đồng (hai mươi bảy ngàn đồng).

Đối với số tiền thu giữ trong người của Lê Thành U: 53.000đồng, Hoàng Thị Bích N: 27.000 đồng, quá trình điều tra U và N khai nhận đây là tiền lẻ để ở trong người và không sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc nên quá trình xử lý Công an xã BT đã tiến hành trả lại cho Lê Thành U và Hoàng Thị Bích N.

Như vậy, tổng số tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc trong vụ án đã chứng minh là 4.900.000đồng (bốn triệu chín trăm ngàn đồng).

Đối với số tiền đánh bạc 4.900.000đồng, quá trình xử lý, Công an xã BT đã nộp vào Ngân sách của Ủy ban nhân dân xã BT và được Ủy ban nhân dân xã BT nộp vào kho bạc Nhà nước huyện Đ vào ngày 30/9/2022.

Số tang vật còn lại trong vụ đánh bạc hiện đang được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

Tại bản cáo trạng số 139/CT - VKS ngày 27 tháng 6 năm 2023 của V kiểm sát nhân dân huyện Đ, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử đối với bị cáo: Lê Thành U về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: đại diện V kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Lê Thành U từ 12 tháng tù đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập hành tháng 650.000đồng/tháng.

Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thành U đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: vào 12 giờ trưa ngày 11/8/2022, bị cáo Lê Thành U đến nhà Hoàng Thị Bích N tại: TB1, BT, Đ, Lâm Đồng để chơi, sau khi ăn uống xong thì Hoàng Thị Bích N, Lê Thành U, Trần Thị Diễm C và Trần Thị Thu TR cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh tiến lên thắng thua bằng tiền, mức độ thắng thua: về nhất ăn 100.000đồng, về nhì ăn 50.000đồng, về ba thua 50.000đồng, về bét thua 100.000đồng, ai về ba bệnh ăn mỗi nhà 150.000đồng, quá trình chơi, ai bị chặt heo đen thì thua 50.000đồng, heo đỏ thua 100.000đồng, ai bị nhốt thua 200.000đồng, bị thối heo đen thua 50.000đồng, thối heo đỏ thua 100.000đồng. Đánh đến khoảng 15giờ 15phU thì bị Công an xã Hiệp Thạnh bắt quả tang, thu giữ số tiền tại sòng là: 4.900.000đồng (bốn triệu chín trăm ngàn đồng). Do bị cáo Lê Thành U đã có tiền án về tội „đánh bạc‟ chưa được xóa án tích tại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên hành vi của Lê Thành U đã cấu thành tội đánh bạc.

Xét lời khai của bị cáo Lê Thành U tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng V kiểm sát đã truy tố, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thành U đã phạm vào tội “đánh bạc”, tội phạm và hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có sức khỏe, có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi “đánh bạc” là tệ nạn xã hội, sẽ làm phát sinh ra các tệ nạn xã hội khác và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật, hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến T hình trật tự trị an tại địa phương, làm giảm hiệu lực quản lý trật tự xã hội của nhà nước.

Về vai trò, nhân thân và các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:

- Về vai trò của bị cáo trong vụ án: đây là sòng bạc tự phát, bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc không có sự thống nhất, bàn bạc, không bố trí canh gác từ trước nên cần xác định vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn.

- Về T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đang có tiền án, cụ thể: bản án số 59/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH, Lâm Đồng xử phạt Lê Thành U số tiền 35.000.000đồng về tội Đánh bạc, bị cáo đã thi hành số tiền phạt và án phí vào ngày 05/8/2022, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nhưng do bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới 5.000.000đ nên đây được xem là T tiết định tội theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên không xem xét T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là đúng pháp luật.

- Về T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ chồng đã ly thân, bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên áp dụng T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo mặc dù có nhân thân xấu, tuy nhiên trong vụ án số tiền đánh bạc không lớn, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Lê Thành U số tiền 500.000đồng/tháng, tương ứng với thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra thu giữ gồm:

- Đối với 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử sụng; 01 chiếu cói, 01 chăn mỏng, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền đánh bạc 4.900.000đồng, quá trình xử lý, Công an xã BT đã nộp vào Ngân sách của Ủy ban nhân dân xã BT và được Ủy ban nhân dân xã BT nộp vào kho bạc Nhà nước huyện Đ vào ngày 30/9/2022 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Hoàng Thị Bích N, Trần Thị Diễm C và Trần Thị Thu TR. Xét thấy, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đồng, qua trích lục tiền án, tiền sự thì các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự gì về tội “Tổ chức đánh bạc” cũng như “Đánh bạc”. Vì vậy, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an xã BT, huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

Về án phí: buộc bị cáo Lê Thành U phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành U phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thành U 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện LH nhận được quyết định thi hành án. Khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Lê Thành U số tiền 500.000đồng/tháng tương ứng với thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Lê Thành U cho Ủy ban nhân dân xã Đ Đ, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử sụng; 01 chiếu cói, 01 chăn mỏng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Thành U phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ