- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí buộc bị cáo Trần Văn Th phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2023/HS-PT Ngày: 31/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
Các thẩm phán: Ông Ong Thân Thắng, ông Nguyễn Văn Ngữ.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Hoài Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 31/8/2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 217/2023/TLPT-HS ngày 21/7/2023 đối với bị cáo Trần Văn Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS-ST ngày 14/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn Th, sinh năm 1975. Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: Tổ 4, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Con ông: Trần Văn Nhân, sinh năm 1937 (đã chết) ; Con bà: Trương Thị Nữ, sinh năm 1939 (đã chết). Vợ: Dương Thị Vân, sinh năm: 1981; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 18/HSST ngày 22/01/2011 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2016/HSST ngày 25/4/2016 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2017/HSST ngày 07/7/2017 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2019/HSST ngày 11/9/2019 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2021/HSST ngày 15/12/2021 của TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (tài sản trộm cắp trị giá 207.000 đồng, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm).
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 50/HSST ngày 16/10/1992 của TAND thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang) xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- Bản án hình sự phúc thẩm số 83/HSST ngày 12/4/1996 của TAND tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- Ngày 16/11/2015 bị Công an phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. ( có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo, không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 18/10/2022 tại khu vực đầu ng 98, đường Nguyễn Nghĩa Lập, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang; Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Bắc Giang phát hiện Trần Văn Thảo, sinh năm 1975, trú tại tổ 4, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang đi xe máy Wave màu đen không có biển kiểm soát có nghi vấn tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Khi bị kiểm tra, Thảo thả ma túy từ bàn tay trái xuống nền đường. Tổ công tác lập biên bản sự việc, thu giữ những vật chứng, tài sản gồm:
+ 01 gói giấy màu trắng, một mặt có nhiều chữ, bên trong đựng 02 gói giấy bạc đều có đặc điểm hai mặt màu trắng bạc, bên trong m i gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy (phát hiện thu giữ tại mặt trên hộp chắn xích xe mô tô của Thảo) được cho vào phong bì ký hiệu “KT1” niêm phong.
+ 01 gói giấy màu trắng, một mặt có chữ và số, bên trong đựng 02 gói giấy bạc trong đó 01 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong đựng 02 gói giấy bạc đều có đặc điểm hai mặt màu trắng bạc bên trong m i gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy.
+ 01 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy (phát hiện thu giữ tại nền đất phía dưới chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave n m đổ nghiêng) được cho vào phong bì ký hiệu “KT2” niêm phong.
+ Số tiền 8.700.000 đồng thu giữ tại túi quần bên phải phía trước đang mặc của Trần Văn Thảo; Số tiền 3.180.000 đồng thu giữ tại túi quần phía sau bên phải Trần Văn Thảo đang mặc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen lắp sim số điện thoại 0332.437.690; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng lắp sim số điện thoại 0347.382.854; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen không có biển số.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ của Trần Văn Th. Kết luận giám định số 1927/KL – KTHS ngày 25/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“Trong một phong bì có ký hiệu “KT1” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 gói giấy màu trắng, một mặt có nhiều chữ l a ú c n h lư n
a loạ Hero ne
Trong một phong bì có ký hiệu “KT2” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) gói giấy màu trắng, một mặt có chữ và số:
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc được đựng trong 01 (một) gói giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng l a ú c n h lư n
a loạ Hero ne.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc l a ú c h lư n
a loạ Hero ne”
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại Iphone 6 Plus lắp sim số 0347.382.854 của Trần Văn Thảo phát hiện nội dung tin nhắn trong mục Zalo, cuộc gọi liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy giữa Th và Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1990 ở tổ 2, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen lắp sim số điện thoại 0332.437.690 của Th, không phát hiện dữ liệu liên quan mua bán ma túy. Kiểm tra điện thoại Iphone 6 Plus của Nguyễn Văn Sơn có tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy với Th và tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy với Lò Văn Dũng, sinh năm 1999, trú tại bản Hán, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, hiện ở số nhà 197 đường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Bắc Giang. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu ViVo lắp sim 0393.563.499 của Lò Văn Dũng thấy tại mục ứng dụng Zalo còn lưu tin nhắn của Dũng với Sơn ngày 08/10/2022 có nội dung liên quan Dũng nhờ Sơn mua hộ ma túy. Quá trình điều tra, Sơn và Dũng khai diễn biến hành vi mua ma túy của Th, xác định Th là người đã bán ma túy cho Sơn, Dũng.
Kết quả lịch sử chi tiết cuộc gọi đi, cuộc gọi đến và tin nhắn điện thoại do Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel cung cấp xác định:
- Hồi 16 giờ 38 phút và 16 giờ 42 phút ngày 08/10/2022 số thuê bao 0363.878.377 của Sơn gọi đến số thê bao 0347.382.854 của Th.
- Hồi 20 giờ 25 phút và 20 giờ 38 phút ngày 12/10/2022 số thuê bao 0363.878.377 của Sơn gọi đến số thê bao 0347.382.854 của Th.
Kết quả điều tra xác định về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Văn Th cụ thể như sau: Khoảng đầu tháng 10/2022, Trần Văn Thảo đi đến khu vực dốc bến phà Chi Ly, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang gặp một người đàn ông không quen biết mua 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000 đồng, mục đích vừa sử dụng vừa bán cho người khác. Th chia nhỏ số ma túy đã mua thành 07 gói nhỏ và cất giấu tại nhà sau đó đã sử dụng hết 01 gói. Số ma túy còn lại, Th có hai lần giao dịch bán ma túy cho Sơn và Dũng như sau:
Lần thứ nhất: Nguyễn Văn Sơn và Lò Văn Dũng là đối tượng nghiện ma túy, quen biết nhau. Khoảng 15 giờ ngày 08/10/2022, Lò Văn Dũng sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu ViVo lắp sim số 0393.563.499 nhắn tin Zalo vào điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus 0363.878.377 của Nguyễn Văn Sơn nhờ Sơn mua giúp ma túy để sử dụng, nội dung tin nhắn “có gọi cho em 200 trắng, 1 hồng đỏ đi anh”, “nếu gọi được thì nhắn tin cho em”, ý là Dũng nhờ Sơn mua giúp 200.000 đồng Heroin và 100.000 đồng ma túy ngựa. Sơn đồng ý và nói với Dũng sẽ góp cùng 100.000 đồng để sau khi mua được ma túy cả hai người cùng sử dụng, Sơn đã gọi điện cho Trần Văn Thảo đặt mua ma túy . Do Thảo không có ma túy ngựa nên Thảo cầm 01 gói Heroin đi đến nhà Sơn. Thảo trực tiếp đưa cho Sơn gói ma túy này. Do Sơn chưa có tiền trả cho Thảo nên nói “khi nào th ng kia về nó đưa tiền thì cháu cầm tiền gọi cho chú”. Thảo đồng ý và đi về. Sơn dùng điện thoại di động nhắn tin Zalo thông báo cho Dũng biết đã mua được ma túy. Dũng nhắn tin lại h n 18 giờ sẽ đến lấy ma túy. Sau đó do Dũng bận công việc nên không đến nhà Sơn lấy ma túy như đã h n. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Thảo đến nhà Sơn lấy lại gói ma túy đã đưa cho Sơn trước đó và cầm về.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 12/10/2022, Dũng đi đến nhà Sơn nhờ Sơn mua hộ 100.000 đồng ma túy Heroin. Sơn nói với Dũng cho góp 30.000 đồng mua ma túy để sử dụng thì Dũng đồng ý. Sơn đưa cho Dũng 30.000 đồng. Sau đó, Sơn gọi điện cho Thảo đặt mua 01 gói ma túy Heroin với giá 100.000 đồng. Thảo đồng ý và mang 01 gói ma túy đi đến nhà Sơn. Khi đi đến đường ng trước cổng nhà Sơn thì Thảo gặp Sơn đang đứng cùng với Dũng. Khi gặp nhau, Dũng đưa cho Thảo 100.000 đồng và được Thảo đưa cho 01 gói ma túy. Sau đó Thảo đi về. Dũng mở gói ma túy ra lấy một ít ma túy đưa cho Sơn. Dũng đi ra khu vực bờ sông thuộc phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang sử dụng hết số ma túy đã mua, còn Sơn cầm ma túy đi vào trong nhà sử dụng hết.
Ngày 18/10/2022, Trần Văn Th đem theo 05 gói ma túy còn lại đi xe mô tô đến nhà chị Đoàn Thị Vân, sinh năm 1979 là người quen ở ngách 4 ng 98, đường Nguyễn Nghĩa Lập, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang chơi ăn cơm trưa tại nhà chị Vân. Sau khi ăn cơm xong, Th đi xe máy ra về đến khu vực đầu ng 98, đường Nguyễn Nghĩa Lập thì bị Công an thành phố Bắc Giang phát hiện, lập biên bản thu giữ 05 gói ma túy. Th khai mang theo 5 gói ma túy trên mục đích để đi bán cho đối tượng nghiện thì bị bắt.
Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm “b. Phạm tội nhiều lần”, điểm “g. Tái phạm nguy hiểm” của khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đã xác định do l i đánh máy nên tại cáo trạng ghi là điểm g khoản 2 điểu 251, nay đính chính là theo điểm “q. Tái phạm nguy hiểm” khoản 2 điều 251 của BLHS.
* Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS-ST ngày 14/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn Th.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/10/2022.
Phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo, số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung công quỹ nhà nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi án sơ thẩm xét xử xong, ngày 27/6/2023 bị cáo Trần Văn Th có đơn kháng cáo với nội dung: mức hình phạt đối với bị cáo là nặng bị cáo xin giảm nh hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Trần Văn Th trình bày: Bị cáo nhất trí với tội danh và khung hình phạt như Tòa án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, hình phạt 8 năm 6 tháng tù là quá nặng so với hành vi của bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nh nào.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra, nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo tranh luận: Không ai có ý kiến gì.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Th nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với Kết luận giám định số 1927/KL-KTHS ngày 25/10/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đối với số vật chứng là ma túy đã thu giữ, các tin nhắn điện thoại của bị cáo và đối tượng Sơn, Dũng về việc mua bán ma túy thể hiện:
Khoảng đầu tháng 10 năm 2022, Trần Văn Th đã mua một gói ma túy heroin với giá 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết, sau đó về chia lẻ thành 7 gói nhỏ, mục đích để bán kiếm tiền. Th đã sử dụng một gói ma túy. Số ma túy còn lại, ngày 08/10/2022 Th đã bán cho Nguyễn Văn Sơn và Lò Văn Dũng một gói với giá 200.000 đồng, nhưng do Dũng không đến lấy ma túy và chưa trả tiền nên Th đã lấy lại gói ma túy trên. Ngày 12/10/2022, Th đem bán cho Dũng và Sơn một gói ma túy với giá 100.000 đồng. Ngày 18/10/2022 Th đem 5 gói ma túy có tổng khối lượng 0,192gam, loại heroin, mục đích để đi bán thì bị bắt.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội của địa phương, vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Các hành vi nêu trên của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 215 của Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Th:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử, bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự..
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ do hành vi phạm tội mà bịcáo gây ra; đã xem xét đầy đủ về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo, xử phạt bị cáo 08 năm 06 tháng tù là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác, không có tình tiết giảm nh mới. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Th, cần giữ nguyên bản án sơ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Th. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS-ST ngày 14/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Căn cứ điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Th 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/10/2022. Phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo, số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung công quỹ nhà nước.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí buộc bị cáo Trần Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA, VKS, TA TP. Bắc Giang; - Chi cục THADS TP. Bắc Giang; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ` N u ễn Thị Hươn G an |