vanban.org

Bản án 144/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 15/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya: Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST ngày 18/03/2022 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. [2] Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y T và đồng phạm vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 232 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2022/HS-PT
Ngày: 15 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Khánh.

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Huờn

2. Ông Nguyễn Ngọc Sâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo YT Niê và đồng phạm phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, do có kháng cáo của các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2022/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: YT Niê, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm: 1999; tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn JL, xã KN, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Ê đê; tôn giáo: Không; con ông YM Êban và bà HN Niê; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: YL Niê, tên gọi khác: YL Niê Kđăm; giới tính: Nam; sinh năm: 1985; tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn EM, xã KN, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: M’Nông; tôn giáo: Không; con ông YS Niê Kđăm và bà HM Rya; bị cáo có vợ là HN Glan và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 09/8/2004, bị Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (tại Bản án số 572/HSPT), bị cáo đã chấp hành xong.

Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: YK Rya, tên gọi khác: Y K1 Rya; giới tính: Nam; sinh năm: 1984; tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn TN, xã KN, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: M’Nông; tôn giáo: Không; con ông YN Ksơr và bà HN1ăp Rya; bị cáo có vợ là HC Byă và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 17/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xét xử sơ thẩm và xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (tại Bản án số 01/HSST), bị cáo đã chấp hành xong.

Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Những người tham gia tố tụng khác:

1. Người bào chữa cho bị cáo YT Niê: Bà Hoàng Thị T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt nhưng đã gửi bản bào chữa cho Hội đồng xét xử).

2. Người bào chữa cho bị cáo YL Niê và YK Rya: Ông Phạm Công M – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt nhưng đã gửi bản bào chữa cho Hội đồng xét xử).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 10/2021, YT Niê, YL Niê và YK Rya rủ nhau vào Vườn quốc gia YD để lấy hoa phong lan về bán kiếm tiền. Khi đến Tiểu khu 417, Vườn quốc gia YD thì YT phát hiện 01 cây gỗ Giáng hương nên nảy sinh ý định khai thác để bán kiếm tiền nên đã rủ YK và YL tham gia. YL và YK đồng ý, sau khi về nhà mỗi người đưa 500.000 đồng cho YL đi mua cưa máy. Đến ngày 03/10/2021, sau khi chuẩn bị các vật dụng cần thiết gồm 01 chiếc cưa máy, đồ ăn, xăng dầu thì YT, YL và YK cùng nhau đi bộ vào vị trí cây gỗ trên. Đến tối cùng ngày cả ba người thay nhau cắt hạ cây gỗ Giáng hương, YT là người cầm cưa máy cắt hạ cây, YL và YK dọn dẹp cây xung quanh. Sau khi cây đổ xuống thì YT cắt cây thành 03 lóng rồi cả ba cùng về nghỉ ngơi. Tối ngày 04/10/2021 cả ba người thay nhau bổ, xẻ 03 lóng gỗ thành 05 hộp gỗ để thuận tiện cho việc vận chuyển ra khỏi rừng. Do 05 hộp gỗ có khối lượng lớn, khả năng vẩn chuyển về sẽ rất khó nên đã thống nhất đi tìm thuê người có voi để vận chuyển gỗ về và trả công bằng cách chia đôi số tiền bán gỗ. Sau khi về tìm người chở thuê thì YK đã thuê được ông YL1 Ksơr ở tại buôn EM, xã KN, huyện BĐ; YL thuê được ông YH Niê ở tại buôn BĐ, xã KN, huyện BĐ; YT thuê được ông YS1 Niê Kđăm ở tại buôn ER, xã KN, huyện BĐ; cả ba đối tượng trên đều là chủ voi. Sau khi đã thống nhất được với YH, YL1 và YS1 về việc thuê và trả công vận chuyển gỗ từ rừng về thì đến ngày 08/10/2021 cả 06 người và 03 con voi, trong đó YK ngồi sau voi do YL1 điều khiển, YT ngồi sau voi do YS1 điều khiển, YL ngồi sau voi do YH điều khiển đi vào rừng chở gỗ. Đến trưa ngày 10/10/2021 các đối tượng đưa 05 hộp gỗ Giáng hương lên lưng voi, trong đó voi của YL1 chở 01 hộp gỗ, voi của YH và YS1 mỗi voi chở 02 hộp gỗ và tất cả cùng đi về. Khi đi khoảng 03km thì dừng lại để cho voi ăn và nghỉ ngơi. Khoảng 17 giờ cùng ngày, tiếp tục đưa gỗ lên lưng voi thì bị lực lượng Kiểm lâm Vườn quốc gia YD tuần tra phát hiện nên tất cả bỏ chạy và để lại gỗ. Riêng bị cáo YL đã bị lực lượng Kiểm lâm bắt giữ và thu giữ 05 hộp gỗ Giáng hương và các đồ dùng khác. Đến ngày 11/10/2021 YT, YK cùng các đối tượng YH, YL1 và YS1 đã đến Cơ quan Công an trình báo và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm, phạm tội của mình.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Buôn Đôn xác định: Hiện trường nơi cây gỗ do YT và đồng phạm khai thác trái phép vào ngày 03/10/2021 thuộc lô 44 khoảnh 4 tiểu khu 417 Vườn quốc gia YD, thuộc địa giới hành chính huyện BĐ. Tại hiện trường còn có thân, cành và ngọn của cây gỗ Giáng hương do các đối tượng khai thác trái phép.

Tại bản Kết luận giám định của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chủng loại gỗ Giáng hương, thuộc nhóm IIA, tên khoa học là Pterrocarpus Pedatus pierre; đối tượng rừng bị xâm hại: Rừng đặc dụng là rừng tự nhiên.

Vị trí cây gỗ bị khai thác tại toạ độ 0397852-1442544 lô 44, khoảnh 4, Tiểu khu 417 thuộc địa giới hành chính xã KN, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk: Có tổng cộng 17 lóng gỗ tròn có tổng khối lượng 3,976m3 và 07 hộp gỗ xẻ có tổng khối lượng 1,189m3;

Vị trí phát hiện vận chuyển tại toạ lạc 0403368-1444341 nằm trong lô 32, khoảnh 1, Tiểu khu 415 thuộc địa giới hành chính xã KN, huyện BĐ. Rừng do vườn Quốc gia YD: Có tổng cộng 05 hộp gỗ xẻ, khối lượng 0,900m3.

Tổng khối lượng của cây gỗ Giáng hương bị cắt hạ là 6,065m3.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo YT Niê, YL Niê và YK Rya phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo YT Niê 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt YL Niê 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt đi thi hành án.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt YK Rya 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/3/2022, các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xét xử các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tòa cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Người bào chữa cho các bị cáo YT Niê, YL Niê và YK Rya trình bày quan điểm bào chữa như sau: Xuất phat từ việc các bị cáo vào Vườn quốc gia YD với mục đích là để lấy hoa lan về bán kiếm tiền, nhưng khi phát hiện cây gỗ Giáng Hương nên bị cáo YT mới nảy sinh ý định khai thác và rủ các bị cáo khác cùng khai thác vận chuyển về, trong lúc đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị lực lượng Kiểm Lâm bắt giữ. Khi biết mình vi phạm pháp luật thì các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu xa và có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có điều kiện lao động phụ giúp gia đình và nuôi con nhỏ.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, đánh giá có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 03/10/2021, YT, YL và YK đã có hành vi khai thác 01 cây gỗ Giáng hương thuộc nhóm gỗ IIA tại lô 44 khoảnh 4 tiểu khu 417 rừng đặc dụng là rừng tự nhiên Vườn quốc gia YD, thuộc xã KN, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk. Tổng khối lượng gỗ bị khai thác là 6.065m3. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm e khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với bị cáo YT là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo YL, YK tham gia vào việc khai thác gỗ trái phép, bị cáo thực hiện hành vi một cách tích cực; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá và áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với các bị cáo YL Niê và YK Rya: Sau khi được bị cáo YT rủ rê thực hiện hành vi thì các bị cáo liền đồng ý, các bị cáo thực hiện hành vi một cách tích cực, cùng tham gia với bị cáo YT chuẩn bị công cụ, chặt hạ cây gỗ Giáng hương và tìm người để vận chuyện gỗ. Ngoài ra, các bị cáo đã từng phạm tội và phải bị chấp hành hình phạt tù nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà các bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mức án 02 năm 06 tháng tù đối với các bị cáo YL Niê, YK Rya là phù hợp và tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Cấp sơ thẩm đã đánh giá và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo YL Niê, YK Rya.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya: Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST ngày 18/03/2022 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo YT Niê 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo YL Niê 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Xử phạt bị cáo YK Rya 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo YT Niê, YL Niê, YK Rya mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ