vanban.org

Bản án 144/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Xuân D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Xuân D 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 23/5/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Xuân Duy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Xuân D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2022/HS-ST
Ngày: 31-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cà Văn Thanh.

2. Ông Hoàng Ngọc Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Sơn La, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2022/TLST-HS ngày 9 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Lò Xuân D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07 tháng 2 năm 2004 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản S, xã Chiềng X, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Quàng Văn D (đã chết) và bà Lò Thị K; Bị cáo chưa có vợ con; không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 23/5/2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Tại điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an thành phố Sơn La) gồm có:Thư ký Tòa án ông Đỗ Anh Tú, bị cáo Lò Xuân D.

Những người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Đinh Mạnh Hùng, ông Trần Hùng Việt – Cảnh sát hỗ trợ Tư pháp – Công an thành phố Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 20 phút ngày 23/5/2022, tại khu vực cầu bản T, xã X, thành phố S, Lò Xuân D bị công an xã Chiềng Xôm phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Xuân D, thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có gói nilon màu hồng mở ra có cục bột màu trắng; 01 gói giấy kẻ ôli màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 1 gói giấy có chữ bên trong có chứa chất bột màu trắng.

Ngày 24/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Lò Xuân D khi bắt quả tang, kết quả:

- Cục bột màu trắng trong gói giấy ni lon màu hồng và giấy bạc màu vàng có khối lượng 0,24 gam; lấy 0,13 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu V. Còn lại 0,11 gam lưu kho ký hiệu H.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy kẻ ôli màu trắng có khối lượng 0,51 gam, lấy 0,51 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu V1, còn lại 0,30 gam lưu kho ký hiệu H1.

- Cục bột màu trắng gói trong giấy có chữ có khối lượng 0,04 gam, lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu V2, còn 0,02 gam lưu kho ký hiệu H2.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 111/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu giám định đối với mẫu gửi giám định. Tại kết luận giám định số 893/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu V, V1, V2 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,36 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,79 gam; loại Heroine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Xuân D khai: Khoảng 13 giờ 30’ ngày 23/5/2022, D đón xe buýt đi từ nhà tại Bản s, Xã X, thành phố S đến khu vực Xã B, huyện M tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu P thuộc địa phận xã B, D xuống xe đi bộ thì gặp một người nam giới (không biết tên, tuổi, địa chỉ), qua trao đổi, D mua được của người nam giới đó 03 gói Heroine với số tiền 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D giấu vào túi quần đang mặcvà đón xe buýt đi về nhà. Khi đến khu vực Bản T, Xã X, thành phố S, D xuống xe tìm nơi sử dụng ma túy. Nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về nguồn gốc 0,79 gam Heroine bị cáo khai mua của một người nam giới không biết họ tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 23/5/2022 tại khu vực cầu P, xã B, huyện M, ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Tại bản cáo trạng số 286/CT-VKSTP ngày 08/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Xuân D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Xuân D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bi ̣ cáo Lò Xuân D từ 20 đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

01 (Một) phong bì công văn Công an thành phố Sơn La niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lò Xuân D, SN 2004 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 23/5/2022. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh giấy kẻ ôli màu trắng; 01 mảnh giấy có chữ; mẫu lưu ký hiệu H=0,11 gam; H1=0,30gam; H2=0,02gam”.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Xuân D nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:

Ngày 23/5/2022, Lò Xuân D đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,79 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực bản T, xã X, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 23/5/2022 tại bản T, xã X, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lò Xuân D cùng vật chứng thu giữ là 03 gói giấy bên trong có chứa ma túy có tổng khối lượng 0,79 gam, kết luận giám định là Heroine.

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

- Lời khai của ông Lù Văn N, trú tại Bản P, xã Chiềng X, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Xuân D.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Xuân D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lò Xuân D phạm tội với tổng khối lượng 0,79 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước. do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo làm nghề lao động tự do, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ mẫu giám định là vật Nhà Nước cấm lưu hành và 1 số mảnh giấy, ni lon không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy,

Về án phí: Bị cáo Lò Xuân D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Xuân D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Xuân D 20 (hai mươi) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 23/5/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì công văn Công an thành phố Sơn La niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lò Xuân D, SN 2004 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 23/5/2022. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh giấy kẻ ôli màu trắng; 01 mảnh giấy có chữ; mẫu lưu ký hiệu H=0,11 gam; H1=0,30gam; H2=0,02gam”.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Lò Xuân D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lò Xuân D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/8/2022).

Cỡ chữ