vanban.org

Bản án 144/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 02/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2022. Tịch thu tiêu hủy: 1,49 gam Cần sa còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 998/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; còn nguyên dấu niêm phong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2022/HS-ST
Ngày 02-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Bình và bà Trịnh Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Hùng và ông Trần Xuân Vọng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân L; tên gọi khác: không; sinh ngày 19/4/1998, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: phường T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: lớp 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B (đã chết) và bà Phạm Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người làm chứng: anh Hồ Đức P; vắng mặt.

- Người chứng kiến: anh Nguyễn Xuân G và ông Nguyễn Văn C, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 20 phút ngày 16/6/2022, tại khu vực thuộc phường T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang Nguyễn Xuân L có hành vi bán trái phép 01 túi nilon chứa 0,346 gam ma túy, loại Cần sa với giá 200.000 đồng cho Hồ Đức P (sinh năm 1994, trú tại phường H, thành phố L, tỉnh Quảng Ninh), mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: Thu trên tay phải của Nguyễn Xuân L 200.000 đồng. L tự giao nộp 06 (sáu) túi nilon chứa 2,089 gam thực vật khô trong tủ quần áo và 01 điện thoại di động Itel màu tím than, nắp sim số 0902.015.692. Thu trên tay phải của Hồ Đức P đang cầm 01 túi nilon chứa 0,346 gam thực vật khô, P khai nhận là ma túy Cần sa, L vừa bán cho P. Thu trong túi quần bên trái phía trước của P đang mặc 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng, sim số 0325.522.442.

Tại bản kết luận giám định số 998/KLGĐ ngày 23/6/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: thực vật khô trong 01 túi nilon thu giữ của Hồ Đức P (M1) và thực vật khô trong 06 túi nilon (M2-M7) L tự giao nộp là ma túy; loại Cần sa. Khối lượng: M1:0,346 gam, tổng khối lượng 06 túi nilon từ (M2-M7) là 2,089 gam. Hoàn lại M1:0,21 gam, M2-M7:1,28 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân L khai nhận: khoảng 16 giờ 20 phút ngày 16/6/2022, L đang ở nhà thì P gọi điện cho L, hỏi mua 01 túi ma túy Cần sa. L báo giá 200.000 đồng và hẹn P đến nhà mình để giao dịch. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, P đến và gọi điện bảo L ra ngoài cửa nhà. L lấy trong tủ quần áo tại phòng ngủ 01 túi nilon ma túy Cần sa đi ra bán cho P 200.000 đồng. Khi P vừa cầm túi ma túy thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang. Nguồn gốc số ma túy là đầu tháng 5/2022, L mua của một người đàn ông ở thành phố Hải Phòng (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 2.600.000 đồng ma túy Cần sa, nhận ma túy và thanh toán tiền qua xe khách. L đem về chia số ma túy mua được ra nhiều túi nilon nhỏ (khoảng 20 túi) cất giấu trong tủ quần áo, thỉnh thoảng sử dụng và bán cho ai có nhu cầu. L chưa bán cho ai khác ngoài lần bán cho P ngày 16/6/2022. Do chất lượng kém L đã xóa số điện thoại của người bán ma túy. Nguồn gốc số tiền 2.600.000 đồng, L mua ma túy là do lao động mà có.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã trả lại cho Hồ Đức P 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng, sim số 0325.522.442.

Người làm chứng anh Hồ Đức P, những người chứng kiến anh Nguyễn Xuân G và ông Nguyễn Văn C trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ được phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Xuân L.

Tại bản cáo trạng số 142/CT- VKSCP ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Nguyễn Xuân L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/6/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận; tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự .Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Nguyễn Xuân L khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, cũng như Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người chứng kiến cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào hồi 17 giờ 20 phút ngày 16/6/2022, tại phường T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Xuân L có hành vi bán trái phép 0,346 gam ma túy, loại Cần sa cho Hồ Đức P, mục đích để sử dụng. Ngoài ra Nguyễn Xuân L còn tàng trữ trái phép 2,089 gam ma túy, loại Cần sa, mục đích để sử dụng và bán. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng số 142/CT- VKSCP ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với xã hội và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém bị cáo vẫn thực hiện hành vi nêu trên. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó, ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng là nguồn phát sinh tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy pháp luật Nhà nước ta xử lý nghiêm khắc đối với các tội phạm này, mục đích để ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy trong xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với xã hội và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém bị cáo vẫn thực hiện hành vi nêu trên. Hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật chứa vật cấm lưu hành nên tịnh thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Itel màu tím than, kèm sim và số tiền 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Xuân L, đủ căn cứ xác định là vật dùng vào việc phạm tội và tiền do bán ma túy mà có, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di dộng Iphone vỏ màu vàng, kèm sim thu giữ của Hồ Đức P, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Hồ Đức P có hành vi tàng trữ trái phép 0,346 gam ma túy, loại Cần sa, chưa đến mức truy cứu tránh nhiệm hình sự, Công an thành phố Cẩm Phả đã ra quyết định xử phạt hành chính.

- Đối với người bán ma túy và người chuyển ma túy cho Nguyễn Xuân L do không biết lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để làm rõ.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2022.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.

- Tịch thu tiêu hủy: 1,49 gam Cần sa còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 998/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; còn nguyên dấu niêm phong.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Itel màu tím, màn hình bị nứt vỡ nhiều kèm 01 sim (không xác định sim số) thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân L, điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ, không kiểm tra được chất lượng bên trong.

+ Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân L, tiền vật chứng theo phiếu nhập kho gói vật chứng niêm phong ngày 18/8/2022 của Kho bạc Nhà nước Cẩm Phả và Biên bản giao nhận tài sản số 64/2022/BBBG-CQCSĐT-CATP ngày 18/8/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm Phả và Kho bạc Nhà nước Cẩm Phả.

Tình trạng của những vật chứng, tài sản nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 07/BB-THA ngày 24/10/2022 giữa Công an thành phố Cẩm Phả và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Xuân L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ