- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ái M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2022/HS-ST Ngày: 29 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Bích Ngọc.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 170/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Ái M (tên gọi khác: CM) – sinh năm: 1984, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp PM 1, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn O (đã chết) và bà Mai Thị H – 1945; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 22/9/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Trần Ái M 03 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; Ngày 26/9/2018, M chấp hành xong hình phạt tù; chưa thi hành việc đóng án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2022 đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ái M bắt đầu sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2018, loại ma túy M sử dụng là ma túy đá, trung bình hai đến ba ngày sử dụng một lần.
Buổi sáng ngày 13/10/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên M sử dụng Zalo có tên “co con” gọi điện thoại cho một đối tượng tên V, ngụ xã Phú Cường, huyện Định Quán (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.000.000đ thì V đồng ý. Sau đó, V mang ma túy đến nhà M tại ấp PM 1, xã PL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai để giao cho M. Sau khi có ma túy, M lấy một ít để sử dụng, số còn lại được hàn kín cất giấu trên bàn trong phòng ngủ của mình. Đến 19 giờ cùng ngày, Công an xã PL đến kiểm tra và phát hiện M cất giấu 01 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (M khai nhận là ma túy đá) mua về nhằm mục đích sử dụng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Tang vật thu giữ:
- 01 gói nylon màu trắng, được hàn kín 02 đầu bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng có kích thước 04cmx3,5cm; 04 ống hút nước bằng nhựa; 01 bình thủy tinh có gắn một ống thủy tinh được uốn cong dùng để sử dụng ma túy; 01 kéo kim loại, 01 bật lửa thu giữ trên bàn trong phòng ngủ của Trần Ái M.
- 01 máy tính bảng hiệu VNPT.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã tiến hành niêm phong chất nghi là ma túy và ra Quyết định trưng cầu giám định theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 2165/KL-KTHS ngày 20/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,1136 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Ái M đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKSTP-ĐN ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Ái M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Ái M và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Trần Ái M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong số 2165/KL-KTHS bên trong đựng ma túy sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 04 ống hút nước bằng nhựa, 01 bình thủy tinh có gắn một ống thủy tinh được uốn cong dùng để sử dụng ma túy, 01 kéo kim loại, 01 bật lửa do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà Nước 01 máy tính bảng hiệu VNPT của Trần Ái M vì đây là phương tiện liên lạc mua ma túy.
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Trần Ái M khai nhận mua ma túy của một thanh niên tên V, có đặc điểm nhận dạng như sau cao khoảng 1m60, dáng người gầy, để tóc dài, nói giọng Miền Nam ngụ xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng có tên V tại xã Phú Cường, huyện Định Quán nhưng chưa phát hiện được đối tượng tình nghi, sẽ tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ được xử lý sau.
Bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ái M đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 13/10/2022 tại nhà Trần Ái M thuộc ấp PM 1, xã PL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, khi Trần Ái M có hành vi tàng trữ 01 gói nylon bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,1136gam ở trong phòng ngủ của mình, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an xã PL kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi do bị cáo Trần Ái M đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ các chất ma túy. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo Trần Ái M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Trong tình hình hiện nay, ma túy đang trở thành vấn nạn của xã hội. Tình trạng mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe nòi giống, nhân cách con người, gây thiệt hại về kinh tế của gia đình cũng như xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội của bị cáo cấu thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo tái phạm, có nhân thân xấu.
. Về hình phạt:
. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì giấy niêm phong số 2165/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét vật chứng trên là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật cấm tàng trữ. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 04 ống hút nước bằng nhựa, 01 bình thủy tinh có gắn một ống thủy tinh được uốn cong dùng để sử dụng ma túy, 01 kéo kim loại, 01 bật lửa. Xét đây là công cụ sử dụng ma túy và không còn giá trị sử dụng. Căn cứ vào quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 máy tính bảng hiệu VNPT: Đây là tài sản của bị cáo M được dùng vào việc liên hệ mua ma túy, liên quan đến tội phạm. Căn cứ vào quy định tại các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
. Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên V ngụ xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, có đặc điểm nhận dạng như sau cao khoảng 1m60, dáng người gầy, để tóc dài, nói giọng Miền Nam mà bị cáo M khai đã mua ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Trần Ái M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ái M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ái M 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 10 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2165/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai, 04 ống hút nước bằng nhựa, 01 bình thủy tinh có gắn 01 ống thủy tinh được uốn cong dùng để sử dụng ma túy, 01 kéo kim loại, 01 bật lửa. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 máy tính bảng hiệu VNPT. (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/12/2022).
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ái M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ái M có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Lưu hồ sơ vụ án – VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Lợi |