vanban.org

Bản án 144/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2022/HS-PT
Ngày 13-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn B sinh năm 1992 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn C, xã T huyện L tỉnh Hà Tĩnh; nơi tạm trú: số 59/9, khu phố T phường T thành phố D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Đ và bà Nguyễn Thị Ánh T; có vợ là bà Nguyễn Thị Mai T và 01 con; tiền án: không tiền sự: không, nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 17/3/2022 cho đến nay, có mặt.

Ngoài ra, còn có 01 đại diện bị hại 01 bị đơn dân sự và 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B có Giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/2017. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/11/2020, Nguyễn Văn B điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai màu trắng, biển số 71C - 024.05 lưu thông hướng từ ngã tư B về ngã ba T trên đường Bùi Hữu N. Khi B điều khiển xe ô tô lưu thông đến đoạn đường thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì B nhìn thấy bà Đào Thị T điều khiển xe đạp hiệu Martin đang lưu thông sát lề phải cùng chiều phía trước. B cho xe ô tô tải vượt lên, thời điểm này ở chiều đường ngược lại có một xe ô tô tải không rõ biển số và người điều khiển đang lưu thông đến, sợ xảy ra va chạm với xe ô tô tải ngược chiều nên B đánh tay lái qua bên phải để tránh thì phần bánh sau bên phải xe ô tô tải va chạm vào phần bên trái xe đạp của bà T, làm xe đạp và bà T ngã xuống đường bị bánh sau bên phải xe ô tô tải chèn lên người bà T. Hậu quả làm bà T chết.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường là đoạn đường Bùi Hữu N thuộc khu phố Bình Đức 2, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đường trải nhựa phẳng, thẳng rộng 7,5 mét không có vạch sơn phân chia chiều đường không có đèn tín hiệu giao thông, không có biển báo giao thông. Sau tai nạn giao thông hiện trường để lại như sau:

Lấy mép lề bên phải chiều đường hướng từ ngã tư B về ngã ba T làm lề chuẩn, lấy cột điện ký hiệu TBA bên lề trái làm điểm mốc.

Xe ô tô tải biển số 71C - 024.05 đỗ trên hành lang lề chuẩn đầu xe hướng về ngã ba T. Trục trước bên trái xe ô tô tải nằm tại mép đường lề chuẩn. Trục bánh sau bên trái xe ô tô tải nằm tại mép lề chuẩn và cách trục bánh sau xe đạp là 133,8 mét.

Xe đạp hiệu Martin nằm trên mép đường hành lang lề chuẩn. Đầu xe đạp hướng vào hành lang lề chuẩn. Trục bánh sau xe đạp nằm tại mép đường lề chuẩn và cách trụ điện ký hiệu TBA Thuận An Hòa 4 là 13,8 mét.

Vết máu nạn nhân kích thước 0,7x 0,3 mét trên mặt đường, cách trục sau xe đạp 1 7 mét và cách mép đường lề chuẩn là 1,6 mét. Giỏ trước đầu xe đạp gãy sứt rời nằm gần xe đạp, chân chống xe đạp gãy rời nằm cạnh xe đạp, ngoài ra không có dấu vết gì khác.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Dấu vết trên xe ô tô tải biển số 71C - 024.05: Cản trước đầu xe ô tô tải có 2 vết trầy xước, bậc lên xuống bên hông phải đầu xe ô tô dính chất màu trắng.

Dấu vết trên xe đạp hiệu Martin: Đầu tay cầm và tay phanh bên trái bị trầy xước, trầy xước ghi đông giỏ đựng đồ màu trắng phía trước sút rời, chân chống gãy rời khỏi khung xe, yên xe bị rách, bánh sau biến dạng.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tử thi số 929/GĐPY ngày 20/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận tử thi Đào Thị T như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều vết xây sát da, bầm tụ máu bên ngoài; Gãy xương cẳng tay xương khớp vai trái; Gãy xương ức và nhiều xương sườn; Dập rách phổi trái; Khoang màng phổi chứa khoảng 2000ml máu. Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương.

Căn cứ Kết luận giám định số 279/GĐCH-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Dấu vết hằn trượt xước cao su, bám dính chất màu bạc (dạng sơn) ở mặt lăn và mặt ngoài lốp ngoài trục bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 71C - 024.05, có chiều từ mặt lăn vào trục phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu bạc, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài bên phải đầu bu lông tăng giảm yên và khóa bánh sau (ở mặt bên phải xe đạp), cong hằn biến dạng toàn bộ mặt phải bánh sau, khung xe phía sau, gác ba ga sau và yên xe đạp hiệu Martin, có chiều từ phải qua trái.

Cơ chế hình thành dấu vết là bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 71C - 024.05 va chạm vào phần bên phải xe đạp hiệu Martin, khi xe đạp này đã đổ ngã sang trái (như mục 1 phần V) tạo ra dấu vết trên hai phương tiện.

Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước vết máu của nạn nhân ký hiệu số 3 trên sơ đồ hiện trường (theo chiều chuyển động của ô tô).

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai màu trắng, biển số 71C - 024.05 do Nguyễn Văn B điều khiển gây tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác minh được biết xe ô tô trên do ông Trần Văn C đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông Cảnh đã bán xe ô tô trên cho ông Nguyễn Văn M nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông M.

Đối với 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Martin do nạn nhân bà Đào Thị T điều khiển xảy ra tai nạn giao thông, xe do bà T làm chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho người đại diện hợp pháp là Hồ Thị Huyền Trân.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Văn M đã bồi thường tổng số tiền 160.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của nạn nhân Đào Thị T. Người đại diện không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về mức hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2022.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, bị cáo Bắc nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, lý do điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn vợ chồng thuê nhà trọ tại thành phố D, sinh sống với 01 con nhỏ sinh năm 2019, vợ đang mang thai người con thứ 2 và thường xuyên đau ốm, không thể lao động để chăm sóc nuôi con; bị cáo là lao động chính tạo thu nhập nuôi vợ con, trả tiền thuê nhà; bị cáo bị bắt giam không còn ai lo cho gia đình.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: kháng cáo của bị cáo là trong thời hạn luật định Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy bị cáo điều khiển xe vượt trái phép va chạm với xe bị hại gây tai nạn lỗi hoàn toàn do bị cáo; hành vi của bị cáo là cẩu thả xem thường pháp luật tính mạng của người khác nên cần phải xử nghiêm. Tuy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nhưng lỗi gây tai nạn do bị cáo mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp nên kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận. Do đó đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận trong lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn B được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/11/2020 tại đoạn đường Bùi Hữu N thuộc khu phố Bình Đức 2 phường B thành phố T tỉnh Bình Dương bị cáo Nguyễn Văn B điều khiển xe ô tô biển số 71C-024.05 va chạm với xe đạp do bị hại Đào Thị T điều khiển lưu thông cùng chiều bên phải làm cho bị hại ngã xuống đường bánh sau bên phải xe ô tô chèn qua người hậu quả bị hại T chết. Nguyên nhân tử vong đa chấn thương.

Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông hậu quả chết người đã vi phạm Điều 9 và Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh điều luật nêu trên và tuyên hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt (xin hưởng án treo) với lý do: điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn vợ chồng thuê nhà trọ tại thành phố D sinh sống với 01 con nhỏ sinh năm 2019 vợ đang mang thai người con thứ 2 và thường xuyên đau ốm không thể lao động để chăm sóc nuôi con; bị cáo là lao động chính tạo thu nhập nuôi vợ con trả tiền thuê nhà; bị cáo bị bắt giam không còn ai lo cho gia đình.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn B có Giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông - Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp có giá trị đến ngày 09/10/2022. Ngày 09/11/2020 bị cáo điều khiển xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ lưu thông đúng làn đường nhưng không giữ khoảng cách an toàn khi vượt đã gây tai nạn với bị hại T hậu quả bị hại chết. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại tính mạng của bị hại. Do đó cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất mức độ tội phạm mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe bị cáo và tuyên truyền giáo dục cho người khác khi tham gia giao thông đường bộ.

Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Bắc đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết trên được quy định tại điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng. Cấp sơ thẩm xét xử mức án 01 năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo có ý thức trách nhiệm do hậu quả của mình gây ra cho bị hại đã kịp thời hỗ trợ bồi thường cho gia đình bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời nhận thấy bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn con còn nhỏ vợ mang thai lại đau ốm bị cáo là lao động chính tạo thu nhập nuôi vợ con. Do đó Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.

[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT Đ NH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2022/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Thuận An tỉnh Bình Dương về phần hình phạt.

1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2022.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo không phải chịu an phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ