vanban.org

Bản án 144/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Trung H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Trung H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số:144 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26- 9 - 2022
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Trường;

2. Ông Đặng Ngọc Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiên – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 737/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2022/QĐ-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986, địa chỉ: Khóm 2, số 64 TĐ, phường AT, thành phố HN, tỉnh ĐT.

Bị đơn: Ông Huỳnh Trung H, sinh năm 1977; địa chỉ: 491/13 TP, phường TN, thành phố VT, tỉnh BR - VT.

(Bà L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt không có đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và ông Huỳnh Trung H quen biết nhau vào năm 2005, đến năm 2006 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 03-8-2006. Ngay sau khi kết hôn, bà và ông H đã phát sinh mâu thuẫn do ông H thường dùng bạo lực và lời lẽ xúc phạm với bà. Ngoài ra, ông H còn là người ham chơi, thường xuyên ăn nhậu về khuya, hoặc đi qua đêm không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng bất hòa, thường xuyên cãi vã. Bà cũng nhiều lần khuyên bảo, đề nghị chồng sửa đổi để vợ chồng cùng nhau xây dựng kinh tế, nuôi dạy con cái nhưng ông H không thay đổi. Vì vậy, tình cảm vợ chồng bà ngày càng giảm sút, mâu thuẫn gia tăng nên bà đã về nhà mẹ bà ở Đồng Tháp sinh sống. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông H, yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Trung H.

Về con chung, cấp dưỡng: Bà và ông H có 02 con chung là Huỳnh Trung Hiếu sinh ngày 16-7-2006, Huỳnh Thị Ngọc Bích, sinh ngày 03-12-2012; bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con gái Huỳnh Thị Ngọc Bích, ông H trực tiếp nuôi dưỡng con trai Huỳnh Trung Hiếu và không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vắng mặt, có đơn giữ nguyên các ý kiến trình bày ở giai đoạn trước khi xét xử và xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã tiến hành các thủ tục tống đạt đối với nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định nhưng nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các quy định pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình, kết quả xác minh của Tòa án, chứng cứ trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Trung H nên đây là vụ án "tranh chấp ly hôn" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông H có nơi cư trú tại thành phố Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập để tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Bà L và ông H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 03-8-2006 nên là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà L trình bày: Ngay sau khi kết hôn thì bà và ông H đã phát sinh mâu thuẫn do ông H thường dùng bạo lực và lời lẽ xúc phạm với bà. Ngoài ra, ông H còn là người ham chơi, thường xuyên ăn nhậu về khuya, hoặc đi qua đêm không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng bất hòa, thường xuyên cãi vã. Bà cũng nhiều lần khuyên bảo, đề nghị ông H sửa đổi nhưng ông H không thay đổi. Do mâu thuẫn vợ chồng bà ngày càng tăng nên bà đã về nhà mẹ bà ở Đồng Tháp sinh sống và bà xác định không còn tình cảm với ông H.

Kết quả xác minh của Tòa án với địa phương nơi bà L, ông H sinh sống có nội dung: Trong thời gian cư trú tại địa phương thì bà L, ông H có xảy ra mâu thuẫn nội bộ trong gia đình nhưng không yêu cầu địa phương hòa giải. Những nội dung xác minh trên phù hợp với lời trình bày của bà L về vấn đề mâu thuẫn giữa bà L và ông H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng và triệu tập ông H đến làm việc nhưng ông H không tham dự cũng như không có ý kiến phản hồi, cho thấy ông H không quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của bà L và không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình.

Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, cả hai cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế, bà L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông H và giữ nguyên ý kiến trình bày, yêu cầu khởi kiện của mình, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L với ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà L với ông H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, cấp dưỡng: bà L với ông H có 02 con chung là Huỳnh Trung Hiếu sinh ngày 16-7-2006, Huỳnh Thị Ngọc Bích, sinh ngày 03-12-2012; bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con gái Huỳnh Thị Ngọc Bích, ông H trực tiếp nuôi dưỡng con trai Huỳnh Trung Hiếu và không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu về vấn đề nuôi con chung của bà L thì thấy: cháu Huỳnh Trung Hiếu là bé trai, đang được ông H chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Hiếu có nguyện vọng được ở với ông H; cháu Huỳnh Thị Ngọc Bích là bé gái, còn nhỏ, đang được bà L nuôi dưỡng, chăm sóc, cháu cũng có nguyện vọng được ở với bà L. Như vậy yêu cầu nuôi con chung của bà L phù hợp với thực tế người đang trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Hiếu và Bích, đồng thời cũng theo nguyện vọng của các cháu. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng là ý kiến tự nguyện và sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội . Ngoài ra, ông H cũng không có ý kiến yêu cầu gì về việc nuôi con chung, cấp dưỡng. Vì vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L về việc bà L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Huỳnh Thị Ngọc Bích, ông H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Trung Hiếu, không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Trung H.

Về con chung, cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Thị Ngọc Bích, sinh ngày 03-12-2012; ông Huỳnh Trung H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Trung Hiếu sinh ngày 16-7-2006; bà L, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ của con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002899 ngày 13 tháng 7 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; bà L đã nộp xong án phí.

Ông Huỳnh Trung H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ