vanban.org

Bản án 144/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Giang N Phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Giang N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG
TỈNH KIÊN GIANG
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2021/HS-ST
Ngày: 05/11/2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Sô Phép

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Tiến

Bà Chung Kim Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Sà Ron – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Thiềm Văn Ty - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 175/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Giang N; Sinh ngày 15/5/1990 tại Thái Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Vọng Lổ, xã An Vũ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; Những nơi đã cư trú: Số nhà F14 lô 37 đường Nguyễn Văn Tố, phường VL, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Đinh Thị V; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc L; Con có 01 người, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị bắt tạm giữ ngày: 24/5/2021; Tại ngoại: Không.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà đường LQK, phường VL, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

+ Hồ Thị Mộng Q, sinh năm 2002 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 8 xã HT, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk

+ Nguyễn Thế Thiên, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu thu nhập thấp, phường VQ, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

+ Lương Văn Đ, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thị trấn Nông Trường, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Người chứng kiến:

+ Trần Thị L, sinh 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà đường 3 tháng 2, phường VL, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

+ Huỳnh Văn H, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà đường NTT, phường VL, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Giang N bắt đầu sử dụng ma túy từ khoảng tháng 5 năm 2020 (loại ma túy đá và thuốc lắc). Nguồn ma túy bị cáo có được là do mua của nhiều người khi đi nhậu ở quán bar Paradies trên địa bàn thành phố RG nhưng không nhớ rõ là mua của ai. Vào ngày 10/5/2021 do có nhu cầu sử sụng ma túy nên bị cáo N đi xe từ Rạch Giá lên Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy. Khi đến nơi N được 01 người xe ôm (không xác định được nhân thân, địa chỉ) chở đi mua ma túy của 01 người phụ nữ (không xác định được nhân thân, địa chỉ) ở khu vực quận Tân Phú với giá 21.000.000 đồng, trong đó có 65 viên thuốc lắc, 04 bịch khay. Sau khi có ma túy bị cáo trở về Rạch Giá và đem về nhà tại số F14 lô 37 đường Nguyễn Văn Tố, phường VL, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang cất giấu. Sau đó N lấy 02 viên thuốc lắc để sử dụng, số còn lại thì để sử dụng dần nhưng chưa được sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố RG kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng. Mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng, không có bán lại hoặc sử dụng vào mục đích khác. Ngoài ra, N khai nhận việc tàng trữ ma túy là 01 mình N thực hiện, không liên quan đến những người có mặt tại nhà N gồm Hồ Thị Mộng Quỳnh, Nguyễn Thế Thiên và Lương Văn Đ. Đến ngày 02/6/2021 bị cáo N bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố RG khởi tố và tạm giam để điều tra.

Bị cáo Nguyễn Giang N đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Giang N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

* Tại bản kết luận giám định số 539/KL-KTHS ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang xác định (bút lục số 15):

- Các hạt chất rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 04 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 6,7335 gam.

- 63 viên nén màu xanh chứa trong 03 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 21,7903 gam.

(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II STT 323, Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III STT 35, MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27 ; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang nêu trên.

* Theo bản cáo trạng số: 198/CT.VKSRG ngày 15/09/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Giang N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Giang N mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu vụ số 539/2021 ngày 31/5/2021 có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 cây cân tiểu ly màu đen; 01 bịch nylon màu đen

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ-VKS ngày 15/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang)

+ Trả cho Nguyễn Giang N 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, do không liên quan đến hành vi phạm tội, đã trả xong.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố RG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Giang N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 10/5/2021 do có nhu cầu sử sụng ma túy nên bị cáo N đi xe từ Rạch Giá lên Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy. Khi đến nơi N được 01 người xe ôm chở đi mua ma túy của 01 người phụ nữ ở khu vực quận Tân Phú với giá 21.000.000 đồng, trong đó có 65 viên thuốc lắc, 04 bịch khay. Sau khi có ma túy bị cáo đem về nhà tại số F14 lô 37 đường Nguyễn Văn Tố, phường VL, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang cất giấu. Sau đó N lấy 02 viên thuốc lắc để sử dụng, số còn lại thì để sử dụng dần nhưng chưa được sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố RG kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng. Qua giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine có khối lượng mẫu gửi giám định là 6,7335 gam; loại MDMA có khối lượng mẫu gửi giám định là 21,7903 gam. Mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng, không có bán lại hoặc sử dụng vào mục đích khác.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Giang N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo xảy ra rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do xuất phát từ việc nghiện ma túy và muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo đã bất chấp lao vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là điều kiện để làm phát sinh tội phạm khác. Do đó cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu vụ số 539/2021 ngày 31/5/2021 có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 cây cân tiểu ly màu đen; 01 bịch nylon màu đen

+ Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố RG đã trả cho Nguyễn Giang N 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, do không liên quan đến hành vi phạm tội là đúng theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo; và người chạy xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy; hiện chưa xác định được tên thật, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố RG, tỉnh Kiên Giang tiếp tục điều tra, làm rõ khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Giang N

Phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Nguyễn Giang N mức án 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 24/5/2021) và tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì có ký hiệu vụ số 539/2021 ngày 31/5/2021 có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 cây cân tiểu ly màu đen; 01 bịch nylon màu đen (Theo quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ-VKS ngày 15/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. * Nơi nhận:

Cỡ chữ