- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Minh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2021/HS-PT Ngày: 29/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Sơn; Ông Nguyễn Hữu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 160/2021/TLPT-HS ngày 19 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Xuân M do có kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo:Họ và tên: Nguyễn Xuân M; tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 07 năm 2000, tại huyện Đô lương, tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: xóm 08, xã T, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1973; vợ, con chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 tháng 12 năm 2020 đến nay. Vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; đại chỉ: xóm 8, xã T, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An – có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị Lê Xuân T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 27/12/2020 Lê Xuân T đi chơi ở xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về đến ngã ba thuộc địa phận xóm 06, xã T, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An thì gặp Trung (bạn mới quen, không rõ lai lịch, địa chỉ) nên dừng xe lại nói chuyện. Một lúc sau thì có Ngọc và Phương là bạn của Trung đến, tiếp theo là có Nguyễn Xuân M đi xe máy đến nói chuyện một lúc thì Minh chào ra về, Trung nói Minh ở lại chơi cho vui, Minh nói về đi vệ sinh tý rồi ra. Khoảng 30 phút sau Minh đi xe máy đến đứng nói chuyện được một lúc Trung rủ đi vào khu vực nghĩa trang Rú Khắp thuộc địa phận xóm 07, xã T, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An để sử dụng ma túy, tất cả đều đồng ý. Khi đến khu vực nghĩa trang Trung nói “có ai biết người nào bán thuốc chó không” ý hỏi có biết ai bán hồng phiến không đồng thời hỏi Lê Xuân T “có tiền không cho em mượn năm trăm” biết Trung muốn mượn tiền để mua ma túy, Thành đồng ý nhưng chưa lấy tiền đưa cho Trung, lúc này Ngọc mượn điện thoại của Nguyễn Xuân M gọi cho ai đó để hỏi mua ma túy và mượn xe của Minh để đi mua ma túy nhưng Minh không đồng và nói “xe tau, để tau đi cho”. Ngọc trả điện thoại lại cho Nguyễn Xuân M và nói “cầm điện thoại đi đến xóm 01, xã Đại Sơn mà lấy” Minh cầm điện thoại và rủ thêm Lê Xuân T cùng đi, Thành đồng ý, Minh điều khiển xe chở Thành, khi đang đi trên đường thì người bán ma túy gọi điện thoại hỏi “bay mô rồi” Minh trả lời “em đây rồi, gần đến nơi rồi” tắt máy và đi tiếp đến cánh đồng thuộc xóm 01, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, Minh lấy điện thoại ra gọi lại cho người bán ma túy nhưng người này không nghe máy, Minh đưa điện thoại cho Lê Xuân T để đi vệ sinh, Thành cầm điện thoại thì người bán ma túy gọi đến hỏi “bay mô rồi” Thành trả lời “em ở trửa đồng đây rồi” và tắt máy. Đi vệ sinh xong Minh quay lại cầm điện thoại và điều khiển xe máy chạy về phía trước cách vị trí Thành đứng khoảng 100m thì thấy 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô đi đến, Minh quay mặt về hướng Thành đang đứng để ra hiệu cho Thành biết người này là người bán ma túy, người này hiểu ý và điều khiển xe mô tô đến vị trí Thành đang đứng. Khi gặp Thành người này hỏi “Tiền mô rồi”, Thành đưa cho người này 500.000 đồng và nhận 01 gói bao ni lông trong suốt, bên trong đựng 05 viên ma túy hồng phiến rồi đánh xe đi. Lúc này Minh đi lại và hỏi Thành “lấy được hàng chưa” ý hỏi mua được ma túy chưa, Thành nói “lấy được hàng rồi” và Nguyễn Xuân M lấy điện thoại xóa hết nhật ký cuộc gọi, điều khiển xe chở Thành về nghĩa trang Rú Khắp ở xã T, huyện Đô L. Trên đường đi Minh hỏi Thành “mua hết mấy” Thành trả lời “năm trăm chớ mấy” khi cả hai đi đến khu vục nghĩa trang Rú Khắp thuộc xóm 7, xã T, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An thì bị Công an xã T, huyện Đô L kiểm tra phát hiện, lúc này do hoảng sợ nên Lê Xuân T đã ném gói ma túy xuống mặt đất, cách vị trí Thành và Minh đứng khoảng 01 mét thì bị lực lượng tổ tuần tra pháp hiện và lập biên bản phạm tội qua tang dẫn giải người cùng vật chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 05 viên nén màu hồng hình trụ tròn nghi là ma túy; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 37D1 – 931.80; 01 điện thoại di động màu đỏ đã qua sử dụng nhãn hiệu Realme, màn hình bị vỡ thu giữ của Nguyễn Xuân M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã của sử dụng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 37D1 – 721.06 thu giữ của Lê Xuân T.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 28/12/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương 05 viên nén màu hồng hình trụ tròn thu giữ của Nguyễn Xuân M và Lê Xuân T có khối lượng 0,503 gam và Kết luận giám định số 118/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 04/01/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng hình trụ tròn thu giữ của Lê Xuân T và Nguyễn Xuân M gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HSST ngày 27/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân M 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/12/2020).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư màu trắng niêm phong dán kín bên trong có chứa 04 viên nén hình trụ tròn màu hồng khối lượng 0.401 gam và phong bì thư niêm phong ban đầu thu giữ của Lê Xuân T, Nguyễn Xuân M. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 37D1-931.80 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ của Nguyễn Xuân M. Trả lại cho Lê Xuân T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus. Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 03 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương.
Ngày 02/5/2021, bà Nguyễn Thị D làm đơn kháng cáo với nội dung chiếc xe máy thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân M là tiền của bà đưa cho Minh mua xe máy để phục vụ việc đi lại của cả gia đình chứ không phải tài sản riêng của bị cáo nên đề nghị cấp phúc thẩm trả lại chiếc xe cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D, trả lại chiếc xe máy cho bà Nguyễn Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị D có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành nên xét xử vắng mặt bà Dũng theo quy định của pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bà bị cáo Nguyễn Thị D thấy rằng:
Bà Nguyễn Thị D cho rằng chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 37D1-931.80 là tài sản của gia đình mua vào ngày 20/9/2019 với giá 23.000.000đ do không có bằng lái nên khi làm thủ tục mua xe đứng tên Nguyễn Xuân M.Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ như Biên bản xác minh hoàn cảnh gia đình thể hiện bị cáo Minh không tài sản gì, căn cứ lời khai của bị cáo Minh trong quá trình điều tra thể hiện chiếc xe máy bị thu giữ là tài sản của bố mẹ bị cáo nhưng đứng tên sở hữu bị cáo do bố mẹ không có bằng lái và không biết đi xe máy nên mua xe máy mục đích để bị cáo phục vụ gia đình đi lại. Hội đồng xét xử thấy rằng do chiếc xe máy không thuộc trường hợp đăng ký sở hữu chung, căn cứ các tài liệu và lời khai của bị cáo bà Dũng đủ căn cứ xác định chiếc xe máy nêu trên là tài sản chung của gia đình bị cáo Minh. Do đó, cần chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị D sửa bản án sơ thẩm về phần vật chứng là trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 37D1-931.80 cho bà Nguyễn Thị D như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị D kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ a khoản 1 điều 355, Điều 356, điểm b khooản 1 Điều 361 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D.
Sửa một phần bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị D chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 37D1-931.80. Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 03 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị D không phải chịu án phí phúc thẩm
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND, VKSND h. Đô Lương; - Chi cục THADS h. Đô Lương; - Công an h. Đô Lương; - UBND xã Thượng Sơn, h. ơn; - Người tham gia tố tụng; - Sơ Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu Hsơ, Toà hsự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hải Minh |