vanban.org

Bản án 144/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc và nợ lãi.

Buộc anh Nguyễn Chí T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng phát triển thành phố H (HBank) số tiền còn nợ tính đến ngày 29/6/2021 tổng cộng 18.580.340 đồng (mười tám triệu năm trăm tám mươi nghìn ba trăm bốn mươi đồng), trong đó nợ gốc 16.019.979 đồng, lãi trong hạn 1.775.614 đồng, lãi quá hạn 784.74… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng PT TP HCM- Nguyễn Chí Thịnh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc và nợ lãi.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2021/DS-ST
Ngày 29 – 6 – 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Cúc

Ông Hà Trọng Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang – Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2021/DS-ST ngày 03 tháng 02 năm 2021 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 390/2021/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H.

Địa chỉ trụ sở chính: Số V, NT, phường B, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh C; Số B, đường N, phường Y, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc Th - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị N – Chức vụ: Chuyên viên QHKHCN Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - chi nhánh C, theo Giấy ủy quyền ngày 05/02/2021. (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 1994; Cư trú tại: Đường L, khóm X, phường Y, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa như sau:

Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (gọi tắt là HBank) cho anh Nguyễn Chí T vay số tiền 35.000.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ só 14135/18MN/HĐTD ngày 26/6/2018, thời gian vay 48 tháng, kỳ hạn trả nợ sau 30 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày HBank giải ngân tiền vay lần đầu, nợ gốc và lãi vay trả hàng tháng vào ngày 26, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 17%/năm. Lãi suất cố định trong suốt thời gian vay (theo dư nợ giảm dần) hoặc điều chỉnh theo thỏa thuận của hai bên trong suốt thời gian vay, lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm, số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ là 730.000 đồng, kỳ cuối cùng phải trả 690.000 đồng, anh T đã thanh toán cho Ngân hàng được 26 kỳ bằng 18.980.021 đồng vốn gốc và 9.264.908 đồng lãi. Tính đến ngày 29/6/2021, ông T còn nợ Ngân hàng nợ gốc 16.019.979 đồng, lãi trong hạn 1.775.614 đồng, lãi quá hạn 784.747 đồng, tổng cộng 18.580.340 đồng. Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ trên và yêu cầu thanh toán khoản lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết với HBank kể từ sau ngày 29/6/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Chí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo cho anh T đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Bị đơn Nguyễn Chí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với anh T.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng, vào ngày 26/6/2018, HBank cho bị đơn vay số tiền 35.000.000 đồng, việc vay tiền có hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 14135/18MN/HĐTD, thời hạn vay 48 tháng, nợ gốc và lãi vay được hoàn trả hàng tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 17%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất vay trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm, số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ là 730.000 đồng. Anh T đã thanh toán cho HBank được 18.980.021 đồng vốn gốc và 9.264.908 đồng lãi. Tính đến ngày 29/6/2021, anh T còn nợ Ngân hàng nợ gốc 16.019.979 đồng và lãi. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng cộng vốn và lãi 18.580.340 đồng. Xét thấy hợp hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 14135/18MN/HĐTD ngày 26/6/2018 giữa anh T với HBank được xác lập trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán. Xét thấy, việc nguyên đơn yêu cầu trả nợ vốn, lãi phù hợp với Hợp đồng tín dụng đã ký và số tiền còn nợ. Bị đơn không có ý kiến nên không xem xét. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu anh Nguyễn Chí T thanh toán cho HBank tính đến ngày 29/6/2021 với tổng số là tổng cộng 18.580.340 đồng, trong đó vốn gốc 16.019.979 đồng, lãi trong hạn 1.775.614 đồng, lãi quá hạn 784.747 đồng và lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch: Bị đơn phải nộp theo quy định.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463; 466; 468, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc và nợ lãi.

Buộc anh Nguyễn Chí T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng phát triển thành phố H (HBank) số tiền còn nợ tính đến ngày 29/6/2021 tổng cộng 18.580.340 đồng (mười tám triệu năm trăm tám mươi nghìn ba trăm bốn mươi đồng), trong đó nợ gốc 16.019.979 đồng, lãi trong hạn 1.775.614 đồng, lãi quá hạn 784.747 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày Bản án sơ thẩm (ngày 29/6/2021), anh Nguyễn Chí T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng s được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Nguyễn Chí T phải nộp 929.000 đồng (chưa nộp). Ngân hàng phát triển thành phố Hồ Chí Minh không phải nộp án phí. Ngày 26/02/2021, HBank đã nộp tiền tạm ứng án phí 430.000 đồng tại biên lai số 0000680 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ