vanban.org

Bản án 144/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 13/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quách Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. 2.

Xử phạt: Bị cáo Quách Đình T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2020. 3. Về vật chứng : Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,21 gam Methamphetamine mẫu vật trong niêm phong số: 53/GĐMT (Vật chứng trên theo biên bả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Đình T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2020/HS-ST
Ngày: 13/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Lê Thị Chiên Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Lập.

Ông Lê Như Toản.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2020, tại Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2020/TLST-HS ngày 10/4/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2020/Q ĐXXST-HS ngày 28/4/2020, đối với bị cáo: Quách Đình T, tên gọi khác:Không; Giới tính: Nam; Sinh: 07/6/1980, tại thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ 39, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Quách Đình T1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B; Vợ: Đỗ Thị T2 (Đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam ngày 08/01/2020. Có mặt tại phiên tòa. Người làm chứng: 1. Chị Lê Thị H; Nơi cư trú: Tổ 9, khu 2, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa. 2. Anh Lê Thành C; Nơi cư trú: : Tổ 52, khu 4, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ ngày 07/01/2020, tại tổ 19, khu 2, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long, Công an phường Hồng Gai phát hiện, bắt quả tang Quách Đình T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng ngay dưới đất, nơi T đứng. Tại Kết luận giám định số: 53/GĐMT ngày 12 tháng 01 năm 2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng ghi thu của Quách Đình T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,266g (không phảy hai sáu sáu gam). (bút lục số 15).

Bị cáo Quách Đình T khai nhận T nghiện ma túy từ tháng 11 năm 2019 đến nay. Khoảng 23 giờ ngày 07/01/2020, T đi ra khu vực đoạn đường 25/4 thuộc phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy “Đá”, với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cầm theo người đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. Do sợ hãi, T đã vứt túi ma túy vừa mua được xuống đất (bút lục số: 39,40). Người làm chứng: Chị Lê Thị H, anh Lê Thành C có lời khai xác nhận sự việc được chứng kiến Công an kiểm tra người thanh niên khai tên là Quách Đình T, Công an thu dưới chân nam thanh niên này 01 (Một) gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai nhận là ma túy của T để sử dụng…(BL từ 67 đến 72). Tại bản cáo trạng số: 133/CT-VKSHL ngày 08/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long để xét xử bị cáo Quách Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quách Đình T theo tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm c, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Quách Đình T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,21 gam Methamphetamine mẫu vật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ ngày 07/01/2020, tại khu vực thuộc tổ 19, khu 2, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Quách Đình T có hành vi tàng trữ trái phép 0,266 g (không phẩy hai sáu sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Hồng Gai phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo đã có hành vi cất giữ chất ma túy bất hợp pháp để sử dụng, nên bị cáo Quách Đình T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp luật . Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Cần phải xử lý bị cáo để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung. [2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự . [3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. [4] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không nghề nghiệp. Nên không phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về vật chứng: Sau giám định hoàn lại 0,21 gam Methamphetamine mẫu vật trong niêm phong sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Nên tịch thu tiêu hủy. [7] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. [8] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án này thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Quách Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. 2. Về hình phạt: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Quách Đình T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2020. 3. Về vật chứng : Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,21 gam Methamphetamine mẫu vật trong niêm phong số: 53/GĐMT (Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 166/BB-THA ngày 23/4/2020, tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long). 4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Án xử công khai, có mặt bị cáo. Báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ