- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huỳnh N khởi kiện xin ly hôn anh Đinh Thanh P"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2020/HNGĐ-ST Ngày: 19-5-2020 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trương; Ông Võ Văn Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Triều - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Gò Công.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công tham gia phiên toà: Ông Phan Ngọc Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 352/2019/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2019, về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST-HNGD ngày 03 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh N, sinh năm 1994; (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: 101 H, khu phố B, Phường H, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Đinh Thanh P, sinh năm 1987; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Huỳnh N trình bày: Qua tìm hiểu chị và anh Đinh Thanh P tiến đến hôn nhân năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thuận, thị xã Gò Công cùng năm. Quá trình chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, anh P làm nghề cho vay gây nợ rồi phải đi trốn, nên vợ chồng thường xuyên cự cải, ngoài ra mẹ chồng không thích chị nên có lời ra tiếng vào. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, chị yêu cầu được ly hôn với anh P.
Về con chung: Có một người con chung tên Đinh Thanh Q, sinh ngày 08/9/2016. Khi ly hôn chị N yêu cầu tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Anh Đinh Thanh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của chị N, nhưng không có ý kiến gì và vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nên không lấy lời khai và hòa giải được.
Tại phiên tòa:
- Chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Anh P đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh P; Về con chung giao cháu Q cho chị N trực tiếp nuôi, anh P không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét; Về án phí sơ thẩm thì chị N chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Huỳnh N khởi kiện xin ly hôn anh Đinh Thanh P có nơi cư trú ấp T, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang nên Tòa án nhân dân thị xã Gò Công thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đinh Thanh P đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, chị N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh P, căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy, chị N và anh P kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Chị Huỳnh N và anh Đinh Thanh P sống chung vào năm 2015, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế gia đình, anh P làm nghề cho vay gây nợ rồi phải đi trốn, nên vợ chồng thường xuyên cự cải, ngoài ra mẹ chồng không thích chị nên có lời ra tiếng vào. Trong quá trình giải quyết, anh P đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của chị N, nhưng anh P không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải. Điều này chứng tỏ tình cảm của anh P đối với chị N đã không còn, mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục. Xét thấy hôn nhân của chị N và anh P lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị N xin ly hôn anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị N và anh P có một người con chung tên Đinh Thanh Q, sinh ngày 08/9/2016.
Xét thấy, qua lời trình bày của chị N thì từ khi sinh ra cho đến nay cháu Q đều do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N hiện nay đang có công việc ổn định tại địa phương. Anh P vắng mặt không thể hiện ý kiến về việc nuôi con. Vì vậy, để cháu Q phát triển ổn định, toàn diện thì việc giao con chung cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp, nên yêu cầu của chị N về việc nuôi dưỡng con chung được chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Chị N là người trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Huỳnh N phải chịu án phí theo quy định.
Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và các điều 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147 và khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh N được ly hôn với anh Đinh Thanh P.
- Về quan hệ con chung: Chị Huỳnh N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đinh Thanh Q, sinh ngày 08/9/2016. Anh Đinh Thanh P chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 43460 ngày 02/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công. Như vậy, chị N đã nộp xong án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công; - Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công; - UBND xã Long Thuận, thị xã Gò Công; - Các đương sự; - Lưu án ăn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Thu Thúy |