- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỹ C phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2018/HS-ST Ngày: 19/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Tiếp
2. Ông Nguyễn Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Th ký TAND thµnh Phè Thanh Hãa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa than gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung
-
Kiểm sát viên
Ngày 19/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 250/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo:
Nguyễn Sỹ C - Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1986 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: đường M, phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ V (chết) và bà Trịnh Thị T; vợ: chưa; tiền án: Ngày 17/4/2012 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; ngày 26/12/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 22/5/2016); tiền sự: ngày 01/6/2017 bị Chủ tịch UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2018, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h 20’ ngày 07/3/2018, Nguyễn Sỹ C một mình đi đến trước cửa nhà anh Nguyễn Văn Q (thường gọi là Q - H) ở đường L, phường Đ, thành phố T, mua 01 gói ma túy đá của người đàn ông tự xưng là P khoảng 35 tuổi với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, C ngậm gói ma túy đá vào trong miệng đi về thì bị Công an phường Đ yêu cầu kiểm tra, C đã bỏ chạy và nhả gói ma túy đá xuống đường bê tông trong ngõ thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ cùng với tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 594/MT-PC54 ngày 12/3/2018 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,198g loại: Menthamphetamine.
Đối với người đàn ông tên P khoảng 35 tuổi C khai đã bán ma túy cho C ở đường L, phường Đ, thành phố T, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có ai tên là P ở trong nhà anh Q. Do đó cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử ly sau.
Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKS-MT ngày 25/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Sỹ C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo là từ từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 12h 20' ngày 07/3/2018 tại tại đường L, phường Đ, thành phố Thanh Hóa, Công an phường Đ, thành phố Thanh Hóa bắt quả tang Nguyễn Sỹ C đang tàng trữ 01 gói ma túy có trọng lượng 0,198g loại: Menthamphetamine.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Nguyễn Sỹ C có đủ các dấu hiệu cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo điểm 0 khoản 2 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.
Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o; trong thời gian tại ngoại bị cáo đã tích cực phối hợp với cơ quan Công an thành phố Thanh Hóa trong việc phát hiện, bắt giữ tội phạm, góp phần giữ gìn trật tự trị an trên địa bàn thành phố Thanh Hóa nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Ma túy, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự TP.Thanh Hoá là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỹ C phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Sỹ C 05(năm) năm tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ 16/4/2018.
Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Phạm Công H, Khương Công T.
Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 156/THA ngày 26/6/2018 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo phải thi hành án dấn]j có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSNDTPTH; - Công an TPTH; - TAND tỉnh Thanh Hóa - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Hào |