- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Lai Thị H; BĐ Lý Sên C"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Thị H đối với bị đơn anh Lý Sên C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lên
Ông Trương Thái Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 149/2026/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2026 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lai Thị H, sinh năm 1986; Địa chỉ: khu V Biển Trên A, phường V, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Lý Sên C, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu V Biển Trên A, phường V, thành phố Cần Thơ; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2026 cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lai Thị H trình bày: Chị H và anh Lý Sên C kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/8/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống với nhau có 02 đứa con là cháu Lý Thị Thảo V (nữ), sinh ngày 20/12/2011, cháu Lý Bảo K (nam), sinh ngày 23/09/2016. Hiện các cháu đang sống cùng anh S Con. Đến nay tình cảm của hai vợ chồng rạn nứt, xảy ra nhiều mâu thuẫn nên cả hai đã sống ly thân từ tháng 06/2022 cho đến nay.
Nay chị H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Chị Lai Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Lý Sên C. Về con chung: Gồm có 02 đứa con là cháu Lý Thị Thảo V (nữ), sinh ngày 20/12/2011, cháu Lý Bảo K (nam), sinh ngày 23/09/2016, chị H yêu cầu giao 02 cháu Lý Thị Thảo V (nữ), sinh ngày 20/12/2011 và cháu Lý Bảo K (nam), sinh ngày 23/09/2016 cho chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chị H yêu cầu anh Lý Sên C cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.000.000 đồng/tháng/cháu. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Về nợ chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đến ngày 01/4/2026 chị Lai Thị H có đơn tường trình thay đổi yêu cầu khởi kiện về con chung là yêu cầu giao hai cháu Lý Thị Thảo V (nữ), sinh ngày 20/12/2011 và cháu Lý Bảo K (nam), sinh ngày 23/09/2016 cho anh Lý Sên C trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lý Sên C nhưng anh C không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H, đồng thời anh Sên C cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh Lý Sên C nhưng anh S Con vẫn vắng mặt không có lý do, chị Lai Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 26/02/2026 chị Lai Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Lý Sên C có nơi cư trú tại Khu V Biển Trên A, phường V, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng sự, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lai Thị H nhận thấy chị H và anh S Con tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2011, đến năm 2016 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường V, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/8/2016. Quan hệ hôn nhân của chị H và anh S Con không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau, thường hay xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau và hai người đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Chị H nhận thấy cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh S Con nên có nguyện vọng ly hôn. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh Sên C.
Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị H và anh S Con có 02 con chung là cháu Lý Thị Thảo V (nữ), sinh ngày 20/12/2011 và cháu Lý Bảo K (nam), sinh ngày 23/09/2016 hiện các cháu đang do anh S Con trực tiếp nuôi dưỡng, chị H đồng ý giao các cháu Lý Thị Thảo V và cháu Lý Bảo K cho anh S Con trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi và theo ý kiến của cháu Thảo V và cháu Bảo K nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau các cháu có nguyện vọng sống chung với cha. Để đảm bảo cuộc sống của các cháu Thảo V và cháu Bảo K không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Thảo V và cháu Bảo K cho anh S Con trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh S Con không có yêu cầu chị H phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị H khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị H khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 244; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Thị H đối với bị đơn anh Lý Sên C.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lai Thị H được ly hôn với anh Lý Sên C.
- Về con chung: Giao cháu Lý Thị Thảo V (nữ), sinh ngày 20/12/2011 và cháu Lý Bảo K (nam), sinh ngày 23/09/2016 cho anh S Con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu Thảo V và Bảo K đủ 18 tuổi. Chị Lai Thị H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị H không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thảo V và cháu Bảo K của anh S Con thì anh S Con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với chị H.
- Về tài sản chung: Chị H khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Chị H khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Lai Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo lai số 0003658 ngày 26/022026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, chị H đã thực hiện xong. Anh Lý Sên C không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ (Phòng GĐ,TT,KT&THA); - VKSND khu vực 8-Cần Thơ; - Đương sự; - Phòng THADS khu vực 8 - Cần Thơ; - UBND phường Vĩnh Phước; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Chiêu Hùng |