vanban.org

Bản án 143/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T đối với ông Nguyễn Thế V về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi.

Buộc ông Nguyễn Thế V có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, tổng cộng 45.200.000 (Bốn mươi lăm triệu hai trăm nghìn) đồng. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền trên, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T-V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T đối với ông Nguyễn Thế V về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2026/DS-ST
Ngày: 14-5-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản và hợp đồng góp hụi
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Việt Hùng;

2. Ông Tống Đức Hưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 893/2025/TLST-DS, ngày 26 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2026/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thế V, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 21/11/2025, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thế V có mối quan hệ quen biết do ông V có bỏ chả lụa ở xóm nhà bà.

Ông V có tham gia hụi do bà làm thảo hụi cụ thể như sau: Ông V tham gia hụi 20.000 đồng/ngày, hụi mở lần đầu tiên ngày 18/12/2024 âm lịch gồm 60 người tham gia chia làm 24 dây, ông V tham gia 60 phần (mỗi ngày phải đóng 1.200.000 đồng).

+ Ngày 26/12/2024 âm lịch ông V hốt 24 phần;

+ Ngày 11/01/2025 âm lịch ông V hốt 12 phần;

+ Ngày 12/01/2025 âm lịch ông V hốt 24 phần;

Ông V đã đóng hụi đến ngày 04/02/2025 âm lịch thì nhưng không đóng cho bà nữa, hiện ông V nợ lại tiền hụi chết 21 ngày x 1.200.000 đồng = 25.200.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 15/01/2025 âm lịch bà có cho ông V vay số tiền 20.000.000 đồng để làm đám cưới cho con trai, ông V hứa 01 tháng trả nên bà không tính lãi suất. Đến hạn trả nợ thì ông V trốn tránh không gặp mặt, điện thoại không nghe máy.

Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Thế V trả số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Tổng cộng 45.200.000 đồng.

- Bị đơn ông Nguyễn Thế V đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên hòa giải.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Điều 463, 466, 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T đối với ông Nguyễn Thế V.

+ Buộc ông Nguyễn Thế V phải có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, tổng cộng 45.200.000 đồng.

+ Ông Nguyễn Thế V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi” được quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thế V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Thanh T yêu cầu Nguyễn Thế V phải trả số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, tổng cộng 45.200.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày “rằm tháng giêng năm 2025” tức ngày 12/02/2025, ông V có vay của bà T số tiền 20.000.000 đồng, người mượn ông V ký tên và ghi rõ họ tên, hai bên không thỏa thuận mức lãi suất, không có thế chấp tài sản gì. Như vậy, việc ông V có vay và còn nợ tiền bà T là có thật.

Đối với việc ông V tham gia hụi bà T chỉ có danh sách theo dõi hụi nhưng có các hụi viên cùng tham gia hụi làm chứng là ông V có tham gia hụi của bà T, đã lãnh hụi và còn nợ lại tiền hụi của bà T.

Ông V đã được triệu tập hợp lên nhưng không đến Toà án do đó phải chịu hậu quả của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, tổng cộng 45.200.000 đồng.

Bà T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T, buộc ông Nguyễn Thế V có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, tổng cộng 45.200.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 471 của Bộ luật Dân sự.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Ông Nguyễn Thế V phải chịu 2.260.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, 466, 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T đối với ông Nguyễn Thế V về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi.

Buộc ông Nguyễn Thế V có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền hụi 25.200.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng, tổng cộng 45.200.000 (Bốn mươi lăm triệu hai trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Thế V phải chịu 2.260.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Thanh T không phải chịu và được miễn án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ