- Tranh chấp gì? án hình sự — "TSằn Nhộc C2 (tên gọi khác: N), sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã S,…"
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Lệ, ông Trần Ngọc Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bá Văn Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, Thông báo số 30/TB-TA ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với bị cáo:
Họ và tên: TSằn Nhộc C2 (tên gọi khác: N), sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tsằn Nàm S và bà Chề Mã C; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/6/2024 đến ngày 07/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện B.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Ông Đa Văn T, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình là đại diện Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
+ Ông Ngô Đức T1, Lý Thành C1, Mai Lê Gia K – Cán bộ, chiến sĩ Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bình Thuận.
(Tham gia tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện B)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 28/6/2024, TSằn Nhộc C2 (tên gọi khác là N, sinh ngày 08/4/1991; thường trú tại thôn B, xã S, huyện B) đang ở tại nhà do có nhu cầu sử dụng ma túy nên C2 đi đến khu vực gần ngã ba Sông L để tìm người thanh niên (không xác định được nhân thân) để mua ma túy. Khi ra đến nơi, C2 thấy một người thanh niên trước đây đã từng bán ma túy cho C2 đang đứng nên C2 đi đến và nói bán cho C2 300.000 đồng ma túy (heroine), C2 đưa tiền, còn người này đưa 03 (ba) bịch nylon bên trong có chứa ma túy cho C2, nhận được ma túy C2 cầm trên tay trái đi đến bãi đất trống phía sau gần nhà để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, nhận được tin báo của nhân dân, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy công an huyện B phối hợp với Công an xã S đến tại khu vực bãi đất trống phía sau nhà TSằn N thuộc thôn B, xã S, huyện B tiến hành kiểm tra thì phát hiện Tsằn Nhộc Cóng có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện chỗ C2 đang đứng, cách khoảng 50cm có 03 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước mỗi bịch lần lượt là 02 bịch nylon có kích thước khoảng (1,4 x 1,5)cm và 01 bịch nylon có kích thước khoảng (1,5 x 1,2)cm, bên trong tất cả 03 bịch nylon đều chứa chất dạng rắn màu trắng, chưa xác định khối lượng. Cóng khai nhận 03 bịch nylon mà lực lượng Công an thu giữ là ma túy (Heroine) của C2 vừa mới mua từ một người thanh niên (không rõ nhân thân) có đặc điểm nhận dạng là do đeo khẩu trang không nhìn rõ được khuôn mặt, độ khoảng tầm 30 tuổi, cao khoảng 1m60, ở khu vực gần ngã ba Sông L thuộc xã S, huyện B với số tiền là 300.000 đồng mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tsằn Nhộc C2: và thu giữ 03 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước mỗi bịch lần lượt là 02 (bịch nylon có kích thước (1,4 x 1,5)cm, 01 bịch nylon có kích thước (1,5 x 1,2)cm, bên trong tất cả 03 bịch nylon đều có chứa chất rắn màu trắng, chưa xác định khối lượng và 01 kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ trên người của C2. Cơ quan điều tra đưa Tsằn N1 Cóng và toàn bộ tang vật về trụ sở làm việc để xác minh làm rõ.
Ngày 29/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định trưng cầu giám định tiến hành giám định chất ma túy thu giữ của Tsằn N1 Cóng tại Phòng K1 - Công an tỉnh B.
Kết luận giám định số 769/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B. Kết luận giám định về mẫu thu giữ gửi giám định như sau: 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký Nguyễn Như H, Phạm Minh T2, Tsằn N và dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã S. Bên trong phong bì có gồm: 03 (ba) bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước mỗi bịch lần lượt là 02 (hai) bịch nylon có kích thước khoảng (1,4 x 1,5)cm và 01 (một) bịch nylon có kích thước khoảng (1,5 x 1,2)cm, bên trong tất cả 03 (ba) bịch nylon đều chứa chất dạng rắn, màu trắng (ký hiệu M) gửi giám định có khối lượng 0,1503 gam là Heroine.
H1 lại đối tượng giám định: 03 bịch nylon đã cắt lấy mẫu và 0,1256 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 769, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ của TSằn Nhộc Cóng: Đối với 03 bịch nylon đã cắt lấy mẫu và 0,1256 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 769, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B và 01 kim tiêm đã qua sử dụng.
Tại Bản Cáo trạng số 118/CT-VKS-HBB ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố Tsằn Nhộc C2, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận về hành vi phạm tội của bị cáo Tsằn Nhộc C2 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tsằn Nhộc C2 với mức án từ 1 (một) năm đến 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý tang vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 03 bịch nylon đã cắt lấy mẫu và 0,1256 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 769, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B và 01 kim tiêm đã qua sử dụng.
Bị cáo Tsằn Nhộc C2 không trình bày lời bào chữa, bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng bị cáo Tsằn Nhộc C2 trình bày: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo hứa không bao giờ vi phạm nữa, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 28/6/2024, tại thôn B, xã S, huyện B, do Tsằn Nhộc C2 đã tàng trữ trái phép 0,1503 gam; là H2 để sử dụng thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật để xử lý. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo Tsằn Nhộc C2 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, sự phát triển giống nòi của dân tộc và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, bị cáo cũng nhận thức được Heroine là loại ma túy gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp hậu quả pháp lý để tàng trữ sử dụng. Rõ ràng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Tsằn N1 Cóng là hành vi cố ý, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền quản lý của Nhà N3 về các chất ma túy, hơn nữa còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Đối với người thanh niên ở khu vực gần ngã ba Sông L, huyện B, tỉnh Bình Thuận đã bán ma túy cho T3 Nhộc Cóng do chưa rõ nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý tang vật chứng: Sau khi giám định gồm các mẫu vật được hoàn lại đối tượng giám định: 03 bịch nylon đã cắt lấy mẫu và 0,1256 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 769, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B và 01 kim tiêm đã qua sử dụng đây là các chất Nhà nước cấm lưu hành và công cụ dùng vào việc phạm tôi, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy
[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Tsằn Nhộc C2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Tsằn Nhộc C2 phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Tsằn Nhộc Cóng 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/6/2024.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 03 bịch nylon đã cắt lấy mẫu và 0,1256 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 769, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B và 01 kim tiêm đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024)
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Tsằn Nhộc C2 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào: Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Tsằn Nhộc C2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án (12/12/2024).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận; - VKS nhân dân tỉnh Bình Thuận; - VKS nhân dân huyện Bắc Bình; - Chi cục THADS huyện Bắc Bình - Những người tham gia tố tụng; - Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình; - Cơ quan cảnh sát điều tra CAH Bắc Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Ngọc |