vanban.org

Bản án 143/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 06/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T đối với các bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K.

Buộc các bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho nguyên đơn ông Lê Hoài T số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn nợ là 56.136.000 đồng (năm mươi sáu triệu một trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "NĐ: Lê Hoài T; BĐ Thạch Huỳnh S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T đối với các bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/DS-ST
Ngày: 06- 9 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng
Mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lộc

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 121/2024/TLST-DS, ngày 16 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hoài T, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trần Diễm M, sinh năm 1996; địa chỉ: số C khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Thạch Huỳnh S, sinh năm 1984; (vắng mặt)

Bà Kim Thị Xà K, sinh năm 1986; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/4/2024 của nguyên đơn ông Lê Hoài T cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại theo ủy quyền của nguyên đơn chị Trần Diễm M trình bày: Ông Nguyễn Duy M1 là chủ hộ kinh doanh Thành Long tại khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng đã chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh trước đây của hộ kinh kinh doanh T1 cho ông Lê Hoài T theo văn bản thỏa thuận ngày 23/02/2023. Từ ngày 12/04/2017 đến ngày 22/9/2020, ông Nguyễn Duy M1 (chủ hộ kinh doanh T2) có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn mang nhãn hiệu Việt H và các loại thuốc thủy sản, hóa chất phục vụ cho việc nuôi tôm với ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K thông qua hợp đồng bằng văn bản nhưng hiện nay hợp đồng bị thất lạc. Các bên thống nhất thỏa thuận ông M1 sẽ cung cấp các mặt hàng có bán tại cửa hàng cho ông S, bà K theo đơn đặt hàng. Đơn giá được niêm yết tại cửa hàng và có xác nhận theo từng thời điểm, có ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Hàng hóa được giao tại cửa hàng hoặc ông S, bà K đến lấy theo đơn đặt hàng. Sau khi nhận hàng thì kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá và ký tên vào sổ giao nhận hàng. Phương thức thanh toán hai bên thỏa thuận sau khi thu hoạch tôm sẽ thanh toán dứt nợ. Trường hợp nuôi tôm thất vẫn phải thanh toán dứt điểm công nợ. Trong trường hợp thu hoạch tôm không thanh toán dứt điểm công nợ thì ông M1 có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông S, bà K thanh toán hết tiền hàng. Trong quá trình giao dịch ông M1 đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, cung cấp đầy đủ các mặt hàng theo yêu cầu, sau khi nhận hàng ông S, bà K không phản ánh về số lượng, chất lượng, giá bán, chủng loại nhưng khi thu hoạch tôm thì ông S, bà K đã không thực nghĩa vụ thanh toán tiền nợ. Hai bên ngưng giao dịch, tiến hành đối chiếu lại công nợ tính đến ngày 19/09/2023, tổng số tiền ông S, bà K còn nợ là 56.136.000 đồng.

Nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Lê Hoài T tổng số tiền còn nợ là 56.136.000 đồng, đối với số tiền lãi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K, nhưng ông S và bà K không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông T. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ ông S và bà K để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông S và bà K vắng mặt không có lý do, Tòa án đã ban hành thông báo cho ông S và bà K biết kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Đồng thời, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông S và bà K cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông S và bà K vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông S và bà K.

Về nội dung vụ án: Từ ngày 12/04/2017 đến ngày 22/9/2020, ông Nguyễn Duy M1 (chủ hộ kinh doanh T2) có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn mang nhãn hiệu Việt H và các loại thuốc thủy sản, hóa chất phục vụ cho việc nuôi tôm với ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K thông qua hợp đồng bằng văn bản. Các bên thống nhất thỏa thuận ông M1 sẽ cung cấp các mặt hàng có bán tại cửa hàng cho ông S, bà K theo đơn đặt hàng. Đơn giá được niêm yết tại cửa hàng và có xác nhận theo từng thời điểm, có ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Phương thức thanh toán hai bên thỏa thuận sau khi thu hoạch tôm sẽ thanh toán dứt nợ. Trường hợp nuôi tôm thất vẫn phải thanh toán dứt điểm công nợ. Trong trường hợp thu hoạch tôm không thanh toán dứt điểm công nợ thì ông M1 có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông S, bà K thanh toán hết tiền hàng. Hai bên ngưng giao dịch, tiến hành đối chiếu lại công nợ tính đến ngày 19/09/2023, tổng số tiền ông S, bà K còn nợ là 56.136.000 đồng và được ông S ký nhận nợ. Bị đơn cũng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không có ý kiến phản đối, tình tiết nêu trên nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận buộc các bị đơn cùng liên đới trả số tiền mua thức ăn còn nợ 56.136.000 đồng cho nguyên đơn.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu tính lãi là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Lê Hoài T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông S và bà K phải liên đới trả lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải liên đới chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 430, Điều 433, Điều 434, Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hoài T đối với các bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K.

Buộc các bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho nguyên đơn ông Lê Hoài T số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn nợ là 56.136.000 đồng (năm mươi sáu triệu một trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Lê Hoài T có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng ông S và bà K phải liên đới trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Thạch Huỳnh S và bà Kim Thị Xà K phải liên đới cùng chịu án phí là 2.806.800 đồng (hai triệu tám trăm lẻ sáu nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

- Nguyên đơn ông Lê Hoài T không phải chịu án phí, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.859.758 đồng (một triệu tám trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004783 ngày 15/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ