- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Dân Bà Phạm Thị Loan - Thư ký phiên tòa: Phạm hị hu - hư ký òa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên. Ng y 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2023/TLST-HS ng y 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐXXS -HS ng y 07 tháng 12 năm 2023 đối với ị áo: Phạm Văn D, sinh ngày 04/11/1983, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi ư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn C(đã hết v Bùi Thị N, sinh năm 1951; vợ: Trần Thị Hồng Y, sinh năm 1988; con: 01 on sinh năm 2009; Tiền án: Bản án số 472/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 60.000.000 đồng về tội “ ổ chứ đánh ạ ” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự v 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. D hưa thi h nh số tiền phạt còn lại l 42.550.000 đồng. Tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ng y 30/8/2023 đến ngày 05/9/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang ị tạm giam tại Nh tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (Trích xuất có mặt tại phiên tòa). Người chứng kiến: - Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 - Ông Bùi Quý B, sinh năm 1957 Đều địa chỉ: Tổ 2, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 143/2023/HS-ST Ngày 21 - 12 - 2023 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ( u v ặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09 giờ ngày 30/8/2023, tại khu vực Tổ 2, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an huyện Quỳnh Phụ phối hợp với Công an thị trấn Q phát hiện Phạm Văn D đang đi ộ có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu ầu D dừng lại để kiểm tra thì D thả từ lòng bàn tay trái xuống đường 01 gói nilon m u đen, nghi l ma túy. Tổ công tác yêu cầu D nhặt gói đó lên ho vào túi quần ên trái phía trước đang mặc về trụ sở Công an thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ để làm việc. Tại đây, Tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần ên trái phía trước D đang mặ 01 gói nilon m u đen, ên trong l giấy tráng kim màu bạc chứa chất bột màu trắng dạng cục. D khai nhận đó l gói Heroin D vừa mua với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ g . Bản kết luận giám định số 1320/KL-KTHS, ngày 04/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi iá định là ma túy, loại Herôin (Heroine),có tên khoa học là: Diacetyl orphi e, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ su ă 2017) và N hị định 57/2022/N -CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và ti n chất; có khối lượng 0,1597 gam (không phẩy một hì ă tră chí ươi bẩy gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị đị h 57/2022/N -CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.” Tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/8/2023, bị cáo đi ộ từ nh ra đường thôn, đi nhờ xe mô tô của một người đ n ông khoảng 41 tuổi không quen biết đến khu vực tổ 2, thị trấn Q. Sau đó D xuống xe đi ộ vào một ngõ nhỏ gặp và mua của một nam thanh niên khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói heroin với giá 100.000 đồng rồi cầm trong lòng bàn tay trái đi t m chỗ vắng để sử dụng thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang. Bản cáo trạng số 144/CT-VKSQP ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50 v Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/8/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngo i ra, òn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khá theo quy định của pháp luật. ị áo không ó ý kiến tranh luận g . Bị cáo nói lời sau ùng: ị áo rất hối hận về h nh vi ủa m nh, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nh h nh phạt ho ị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
rên ơ sở nội dung vụ án, ăn ứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tụ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị áo v người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, á h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung Cáo trạng v phù hợp với á lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai ủa người hứng kiến ó trong hồ sơ vụ án. Ngo i ra òn đượ hứng minh ng á t i liệu, hứng ứ sau: iên ản ắt người phạm tội quả tang; iên ản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập ùng ng y 30/8/2023; Phiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroin ngày 30/8/2023 của Trung tâm y tế huyện Quỳnh Phụ; Kết luận giám định số 1320/KL-KTHS ngày 04/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó ó đủ ơ sở kết luận: Hồi 09 giờ ngày 30/8/2023, tại đường thuộc tổ 2 thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Phạm Văn D đã ó h nh vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroin, ó khối lượng 0,1597 gam (không phẩy một hì ă tră chí ươi bẩy gam), mụ đí h để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị áo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đượ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy “1. N ười nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 ă đế 05 ă : a) ã bị xử phạt vi phạm hành chính v hà h vi quy định tại i u này hoặc đã bị kết án v tội này hoặc một trong các tội quy định tại các đi u 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật ày, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đế dưới 500 gam; c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 a đế dưới 05 gam; ……………. 5. N ười phạm tội còn có thể bị phạt ti n từ 5.000.000 đồ đến 500.000.000 đồng, cấ đảm nhiệm chức vụ, cấm hành ngh hoặc làm công việc nhất định từ 01 ă đế 05 ă hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sả ”. Như vậy việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự l ho n to n ó ăn ứ. [3] Xét tính chất, mứ độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị áo l rất nguy hiểm ho ã hội, âm phạm hính sá h độc quyền quản lý của Nh nước về các chất ma túy, l m ảnh hưởng đến an ninh trật tự v an toàn xã hội tại địa phương. ặ dù động ơ phạm tội uất phát từ việ nghiện hất ma túy, mụ đí h để thỏa mãn ơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá on người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị áo l người ó đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, song vẫn ngang nhiên thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thứ oi thường pháp luật. ội phạm bị cáo thực hiện thuộ loại tội nghiêm trọng, v vậy ị áo phải hịu mứ h nh phạt tương ứng với h nh vi ị áo đã gây ra. [4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trá h nhiệm h nh sự: Bị áo đã từng bị kết án về tội “ ổ chứ đánh ạ ”, hưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên ị áp dụng t nh tiết tăng nặng trá h nhiệm h nh sự “ ái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá tr nh điều tra, truy tố v tại phiên tòa ị áo khai áo trung thự to n ộ h nh vi phạm tội, do đó ị áo đượ hưởng t nh tiết giảm nh trá h nhiệm h nh sự “N ười phạ tội thà h hẩ hai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 ủa ộ luật Hình sự. [5] Căn ứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, t nh tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự ủa ị áo đã phân tí h trên thấy ần thiết phải áp dụng h nh phạt tù ó thời hạn, á h ly ị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mứ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, nh m ải tạo, giáo dụ riêng đối với bị áo v đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung. [6] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự th ị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị áo nghiện ma túy, t ng trữ ma túy mụ đí h để sử dụng ho ản thân, không ó mụ đí h bán kiếm lời. Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, v vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [7] Đối với 01 người đàn ông khoảng 41 tuổi cho bị áo đi nhờ xe và 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi đã án ma túy ho ị cáo, bị cáo khai không quen biết những người này, không rõ họ tên, địa chỉ của họ do đó Cơ quan điều tra không đủ ơ sở để điều tra, xử lý. [8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây l vật Nh nước cấm tàng trữ, lưu h nh, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự v Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy an hường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50 v Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một năm 09 ( hín tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (30/8/2023). 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1127 gam (Không phẩy ột hì ột tră hai ươi bẩy gam) heroin hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ ao gói quản lý ủa Phạm Văn D trong phong ho n trả mẫu vật giám định số 1320/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình. Vật chứ trê đa được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản v việc giao nhận vật chứng, tài sản số 22 ngày 28/11/2023 giữa cơ qua Cả h sát đi u tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an hường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Văn D phải nộp 200.000đ (Hai tră hì đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo Phạm Văn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/12/2023)./.
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐ CA huyện Quỳnh Phụ; - Cơ quan HAHS CA huyện Quỳnh Phụ; - Sở ư pháp hái nh; - Nhà tạm giữ CA huyện Quỳnh Phụ; - rại tạm giam CA tỉnh hái nh; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - ND ã Q, huyện Q; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phượng |