- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Q1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Chử Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 1.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2023/HS-ST Ngày: 08/9/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Ông Trần Văn Vinh
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2023/TLST-HSST ngày 22 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2023/QĐXXST-HS ngày 25/8/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Thị Q1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại
Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Phòng 30 tầng 4 nhà 5, tập thể B, phường T, quận T, Hà Nội; Chỗ ở: Số 4 phòng 603 ngõ 634/29 đường K, xã T, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Đỗ Văn T1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H (SN: 1972); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên chồng: Vũ Đăng T2 (SN: 1996) – đã ly hôn; Có 01 con, sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Danh chỉ bản số 132 do Công an huyện Thanh Trì lập ngày 14/02/2023
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị bắt tạm giữ, tạm giam từ
ngày 08/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Chử Mạnh C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1975 tại
Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn 3, xã V, huyện T, Hà Nội; Chỗ ở: Thôn 1, xã Đ, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Chử Huy T3 (SN: 1938); Họ và tên mẹ: Lã Thị P (SN: 1938); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 185 do Công an huyện Thanh Trì lập ngày 14/3/2023 Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa. Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Trần Văn Q2, sinh năm 1993 (vắng mặt) HKTT: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định Chỗ ở: P1806, CT1, chung cư 43 đường L, phường N, quận T, Hà Nội 2. Anh Phạm Ngọc T4, sinh năm 1996 (vắng mặt) HKTT: Thôn 4, xã Đ, huyện T, Hà Nội Chỗ ở: Số 81, đường P, phường Y, quận H, Hà Nội 3. Chị Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 2003 (xin vắng mặt) HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện N, Hải Dương 4. Anh Ngô Thế D, sinh năm 1997 (vắng mặt) HKTT: xã Đ, huyện T, Thái Bình Chỗ ở: Số 60, phố N, phường T, quận H, Hà Nội 5. Chị Lương Thanh H2, sinh năm 1996 (vắng mặt) HKTT: thôn Đ, xã Q, huyện N, Ninh Bình Chỗ ở: Số 64, đường K, phường K, quận T, Hà Nội 6. Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1997 (vắng mặt) HKTT: Thôn B, xã T, huyện Đ, Hà Tĩnh Chỗ ở: Số 64, đường K, phường K, quận T, Hà Nội 7. Chị Trần Thị Thanh H3, sinh năm 2000 (vắng mặt) HKTT: Thôn H, xã N, huyện N, Thanh Hóa Chỗ ở: Số 19, ngách 63/38/52, đường L, phường M, quận N, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 07/02/2023, Đỗ Thị Q1, Phạm Ngọc T4 (SN: 1996; HKTT: Thôn 4, xã Đ, huyện T, Hà Nội), Nguyễn Thị Bích N1 (SN: 2003; HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương), Ngô Thế D (SN: 1997; HKTT: Số 60 phố N, phường T, quận H, Hà Nội), Lương Thanh H2 (SN: 1996; HKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình), Nguyễn Thị N2 (SN: 1997; HKTT: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) và Trần Thị Thanh H3 (SN: 2002; HKTT: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) cùng nhau đi ăn uống. Đến khoảng 00 giờ ngày 08/02/2023, các đối tượng rủ nhau đến phòng trọ của Q1 tại Phòng 603, số 4 ngách 29 ngõ 634 Đường K thuộc xã T, huyện T, Hà Nội để sử dụng “bóng cười”. Q1 đồng ý và cùng T4, D1, H2 đi taxi về phòng trọ của Q1 trước. Ngọc đã đặt mua 01 bình bóng cười cùng các quả bóng cao su mang đến địa chỉ nhà của Q1 và Q1 là người xuống nhận hàng. Một lúc sau, N1, N2, H3 cùng đến phòng trọ của Q1 và các đối tượng cùng nhau sử dụng “bóng cười”. Trong khi cả nhóm đang sử dụng bóng cười, Q1 đã gọi điện từ số thuê bao 0948947335 của Q1 đến số thuê bao 0862060697 của đối tượng D2 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 11.500.000 đồng ma túy “Ke” với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời. D2 đồng ý và Q1 đã chuyển khoản số tiền 11.500.000 đồng cho D2 từ số tài khoản 104873238571 mang tên Đỗ Thị Quỳnh tại ngân hàng TMCP C đến số tài khoản 0367753380 mang tên Đinh Thị Nga tại Ngân hàng TMCP Q do D2 cung cấp. Khoảng 15 phút sau, có một người đàn ông mang 01 túi nilon ma túy “Ke” đến giao cho Q1 qua khe cửa nhà. Q1 nhận túi ma túy rồi mang lên phòng và cất vào trong chiếc túi xách. Sau đó, Q1 rủ T4, D1 sử dụng ma túy “kẹo”, “ke” và T4, D1 đồng ý. Các đối tượng thỏa thuận với nhau sau khi sử dụng xong hết bao nhiêu sẽ tính tiền và chia cho từng người. Lúc này, trong túi xách của Q1 có 38 viên “kẹo” và 01 túi “Ke” mà Q1 mua của D2 từ ngày 03/02/2023 cùng 01 túi nilon “Ke” Q1 vừa mua của D2. Lúc này Q1 lấy trong túi xách ra 02 viên ma túy “kẹo” đưa cho D1 và T4, mỗi người sử dụng 01 viên “kẹo”, bản thân Q1 cũng sử dụng 01 viên ma túy “kẹo”. Sau đó, Q1 lấy một phần ma túy “ke” trong túi ma túy mà Q1 mua vào ngày 03/02/2023 ra và dùng 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng, 01 bật lửa để xào “ke”. Đồng thời, Q1 lấy 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuốn thành tẩu hút và cùng T4, D1 ngồi trên giường sử dụng ma túy “ke”. Số ma túy còn lại Q1 cất vào trong túi xách của Q1. Một lúc sau, H2 nói với Q1 đưa cho H2 01 viên “Kẹo” để H2 sử dụng, H2 sẽ trả tiền sau. Q1 lấy 01 viên “Kẹo” từ trong túi xách ra đưa cho H2 và dự định sẽ thu của H2 số tiền là 250.000 đồng. Các đối tượng N2, H3 và N1 chỉ sử dụng “bóng cười”, không sử dụng ma túy. Để phục vụ các đối tượng sử dụng bóng cười và ma túy Q1 đã bật đèn led và loa nghe nhạc để cho các đối tượng chơi “bóng cười” và sử dụng ma túy. Do sắp hết “bóng cười” nên N2 đặt mua tiếp và nhờ Q1 đi xuống dưới nhà nhận 01 bình khí cùng các quả bóng được người bán giao đến mang lên phòng.
Khoảng 03 giờ ngày 08/02/2023, tổ công tác Công an xã T – Công an
huyện Thanh Trì tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của Đỗ Thị Q1 tại Phòng 603, số 4 ngách 29 ngõ 634 đường K thuộc xã T, huyện T, Hà Nội. Trong phòng lúc này có Q1, Phạm Ngọc T4, Ngô Thế D1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị Bích N1, Trần Thị Thanh H3 và Lương Thanh H2. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ 01 chiếc đĩa bằng sứ màu trắng, trên đĩa có các chất tinh thể màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn và 01 thẻ cứng VietCredit đặt trên giường ngủ. Tiếp tục kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong chiếc túi xách màu nâu của Đỗ Thị Q1 02 túi nilon chứa các chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 35 viên nén màu hồng nhạt; thu giữ 02 chiếc bình bằng kim loại hình trụ màu xanh và màu vàng cùng nhiều vỏ bóng bằng cao su. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra những người có mặt trong phòng nhưng không phát hiện và thu giữ gì. Tại chỗ, Q1 khai 03 túi nilon để trong túi xách màu nâu là ma túy của Q1 cất giấu để bán cho người khác nhằm kiếm lời; các đối tượng còn lại cũng khai nhận hành vi sử dụng bóng cười và ma túy nên tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa Q1 cùng những đối tượng còn lại về trụ sở giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác đã thu giữ của Q1 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax, 01 loa màu đỏ trắng có dòng chữ JBL và 01 đèn chiếu sáng màu trắng trên bề mặt có dòng chữ THT.TAHOTO; thu giữ của H2 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax; của T4 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro màu vàng; của H3 01 chiếc điện thoại Iphone XS max; của D1 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen; của N1 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax; của N2 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax. Ngày 08/02/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các đồ vật đã thu giữ khi kiểm tra hành chính tại nhà của Đỗ Thị Q1. Tại bản Kết luận giám định số 854/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng KTHS – Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- 35 viên nén màu hồng nhạt đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 14,756 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 1,267 gam MDMA trong tổng số 14,756 gam thu của Q1 để làm mẫu giám định, còn 13,489 gam hoàn trả Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì.
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 12,772 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,383 gam Ketamine trong tổng số 12,772 gam thu của Q1 để làm mẫu giám định, còn 12,389 gam hoàn trả Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì.
- 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng Vietcredit và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn đều có dính ma túy loại Ketamine. Ngày 14/03/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 02 bình khí bằng kim loại đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 2018/KL-KTHS ngày 05/04/2023 của Phòng KTHS – Công an thành phố Hà Nội kết luận: Khí bên trong 02 bình khí bằng kim loại đều là khí N2O (Dinitơ Monoxit).
Tại Cơ quan Điều tra, Đỗ Thị Q1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu
trên. Q1 khai: Ngày 03/02/2023, Q1 đã gọi điện thoại hỏi mua của đối tượng D2 1.600.000 đồng tiền ma túy “Ke” và 40 viên ma túy “kẹo” với giá 8.000.000 đồng (200.000 đồng/viên) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Sau đó, Q1 đã sử dụng 01 viên ma túy “kẹo”. Q1 bắt đầu bán ma túy từ tháng 12/2022 và giá bán 01 chỉ “ke” là 3.000.000 đồng, giá bán ma túy “kẹo” là 250.000 đồng đến 300.000 đồng/viên tùy thuộc vào giá mua ma túy. Q1 không nhớ đã bán ma túy cho những ai và thu lợi bất chính bao nhiêu tiền. Ngày 08/02/2023, Q1 đã bỏ ra 01 chỉ ma túy “ke” để cùng sử dụng với D1 và T4. Q1 dự định sẽ thu của mỗi người 1.000.000 đồng tiền ma túy “ke”. Đối với ma túy “kẹo”, Q1 dự định sẽ thu của D1, T4, H2 mỗi người 250.000 đồng/viên. Ngoài ra, Q1 khai ngày 08/01/2023 đã mua 24.000.000 đồng tiền ma túy Ketamine của Chử Mạnh C do Trần Văn Q2 (SN: 1993; HKTT: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định) giới thiệu cho Q1.
Ngày 09/02/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì đã tiến
hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn Q2 tại P1806 CT1, chung cư 43 L, phường N, quận T, Hà Nội. Quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ tại vị trí đầu giường ngủ bên trái có 01 tờ tiền 100.000 đồng cuộn tròn dính tinh thể màu trắng; tại ngăn kéo bàn máy tính ở bên trái phòng ngủ có 01 tờ tiền 1.000 đồng dính tinh thể màu trắng, 01 tờ tiền 20.000 đồng cuộn tròn dính tinh thể màu trắng, các hạt tinh thể màu trắng được vun lại gói vào tờ giấy trắng; 01 loa, 01 đèn laze và 01 máy tạo khói. Ngoài ra, Cơ quan Điều tra còn tạm giữ của Q2 01 chiếc điện thoại Iphone màu tím.
Ngày 10/02/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì đã ra
Quyết định trưng cầu giám định đối với các đồ vật đã thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà của Trần Văn Q2. Tại bản Kết luận giám định số 886A/KL-KTHS ngày 18/02/2023 của Phòng KTHS – Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại
Ketamine, khối lượng 0,050 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,020 gam Ketamine trong tổng số 0,050 gam thu của Q2 để làm mẫu giám định, còn 0,030 gam hoàn trả cho Cơ quan Điều tra.
- 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng cuộn tròn, 01 tờ tiền mệnh giá
1.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn đều có dính ma túy loại Ketamine.
Ngày 09/03/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì tiến hành
khám xét khẩn cấp nơi ở của Chử Mạnh C tại thôn 1 xã Đ, T, huyện T, Hà Nội. Quá trình khám xét, Cơ quan Điều tra đã phát hiện và thu giữ trong túi nilon đựng rác ở phòng ngủ của C có 03 túi nilon dính tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 01 mảnh viên nén màu nâu. Đồng thời, Cơ quan Điều tra đã tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động Oppo A91 của C. Ngày 09/03/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các đồ vật đã thu giữ khi khám xét tại nhà của Chử Mạnh C. Tại bản Kết luận giám định số 1472/KL-KTHS ngày 17/03/2023 của Phòng KTHS – Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- 03 túi nilon đều có dính ma túy loại Ketamine.
- 01 mảnh viên nén màu nâu bên trong 01 túi nilon là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,214 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,067 gam MDMA trong tổng số 0,214 gam thu của C để làm mẫu giám định, còn 0,147 gam hoàn trả Cơ quan Điều tra. Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Đỗ Thị Q1 và Trần Văn Q2 là bạn bè quen biết xã hội với nhau. Khoảng 23 giờ ngày 08/01/2023, khi Q2 đang ở nhà tại P1806 CT1, chung cư 43 L, phường N, quận T, Hà Nội thì Q1 đến chơi. Lúc này, Q2 gọi điện thoại cho Chử Mạnh C để hỏi mua ma túy Ketamine (do C là bạn quen biết xã hội của Q2, Q2 chỉ biết C sử dụng ma túy và mục đích Q2 gọi điện thoại để thử hỏi xem C có bán ma túy không). Tuy nhiên, C từ chối và nói với Q2 là C không bán ma túy. Lúc này, Q1 nghe thấy cuộc nói chuyện của Q2 nên đã hỏi xin Q2 số điện thoại của C. Q2 nói với Q1: “C bảo không bán ma túy nhưng cứ thử gọi điện hỏi lại xem sao” và đưa cho Q1 số điện thoại của C rồi vào trong giường nằm nghỉ. Sau đó, Q1 tự mình gọi điện thoại cho C, giới thiệu là bạn của Q2 và hỏi mua 01 “uốn” ma túy “Ke”. Vì Q1 hỏi mua ma túy với số lượng nhiều, C thấy nếu bán ma túy cho Q1 sẽ được nhiều lợi nhuận nên C báo giá bán ma túy là 24.000.000 đồng. Q1 đồng ý và bảo C giao hàng đến sảnh chung cư 43 L, phường N, quận T, Hà Nội. Sau đó, C gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên H4 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và hỏi mua 19.000.000 đồng tiền ma túy “Ke”. Một lúc sau, H4 mang 01 túi nilon ma túy “Ke” đến khu vực gần nghĩa trang Đ, thuộc xã Đ, huyện T, Hà Nội giao cho C. Sau khi nhận túi nilon ma túy, khoảng 00 giờ ngày 09/01/2023, C điều khiển xe ô tô đến sảnh chung cư 43 L giao hàng cho Q1. Khi đến nơi, C gọi điện thoại cho Q1 xuống nhận ma túy. Lúc này, Q1 nhờ Q2 đưa Q1 xuống sảnh chung cư. Khi xuống khu vực sảnh, Q2 đứng bên trong, còn Q1 một mình đi ra bên ngoài gặp C và nhận 01 túi ma túy. Sau khi nhận xong, Q1 đã chuyển số tiền 24.000.000 đồng từ số tài khoản của Q1 đến số tài khoản của Chử Mạnh C. Sau đó, Q1 cầm ma túy lên phòng Q2 kiểm tra rồi cho ma túy vào túi xách và đi về.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Đỗ Thị Q1, Chử Mạnh
C, Trần Văn Q2, Phạm Ngọc T4, Ngô Thế D1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị Bích N1, Trần Thị Thanh H3 và Lương Thanh H2, kết quả: Q1, Q2, T4, D1 và N1 đều dương tính với chất ma túy; C, N2, H3 và H2 đều âm tính với chất ma túy.
Tại Cơ quan Điều tra, Chử Mạnh C đã khai nhận hành vi phạm tội của
mình như đã nêu trên. C khai ngày 09/01/2023 là lần đầu tiên C bán ma túy và C được hưởng lợi số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Số ma túy thu giữ tại nhà của C là do C mua của một người không quen biết đã lâu, C không nhớ mua lúc nào và tại đâu, mục đích để bán kiếm lời khi có người hỏi mua.
Tại Cơ quan Điều tra, Trần Văn Q2 và Đỗ Thị Q1 khai nhận về hành vi
Q2 cung cấp số điện thoại của C cho Q1 như đã nêu trên. Q2 và Q1 đều khai: Q2 chỉ cho Q1 số điện thoại của C, việc Q1 trao đổi, mua bán ma túy với C như thế nào thì Q2 không biết và không được hưởng lợi ích gì. Q1 khai: Sau khi mua ma túy của C, Q1 đã sử dụng cho bản thân hết. Q2 khai: Số ma túy thu giữ tại nhà của Q2 là do Q2 mua của một người nam thanh niên không quen biết từ lâu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, Cơ quan Điều tra không xử lý đối với hành vi của Q2.
Nguyễn Thị Bích N1 khai: Ngày 08/02/2023, N1 không sử dụng ma túy
cùng các đối tượng, nhưng trước đó vài ngày N1 đã sử dụng ma túy. Ngày 14/04/2023, Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc T4, Nguyễn Thị Bích N1, Lương Thanh H2, Ngô Thế D1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/CP ngày 31/12/2021 với mức phạt tiền 1.000.000 đồng/người; xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn Q2 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/CP ngày 31/12/2021 với mức phạt tiền 2.000.000 đồng.
Đối với Đinh Thị N2 (SN: 1998; HKTT: xã Q, huyện Q, Nghệ An) là chủ
số tài khoản 0367753380 tại Ngân hàng TMCP Q, đồng thời là chủ số thuê bao 0862060697 mà D2 sử dụng để liên lạc và nhận tiền mua bán ma túy với Đỗ Thị Q1, quá trình điều tra xác định N2 vắng mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không nắm được; đối với các đối tượng D2 bán ma túy cho Q1, đối tượng H4 bán ma túy cho C ngày 09/01/2023, đối tượng nam thanh niên chưa xác định đã bán ma túy cho C, Q1 và C khai không biết tên tuổi, địa chỉ và không nhớ cách thức liên lạc nên ngày 04/08/2023 CQĐT đã ra Quyết định tách phần tài liệu có liên quan đến các đối tượng này để tiếp tục điều tra, xử lý. Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax là tài sản của Lương Thanh H2, 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro màu vàng là tài sản của Phạm Ngọc T4; 01 chiếc điện thoại Iphone XS max của Trần Thị Thanh H3; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen là tài sản Ngô Thế D1; 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax là tài sản của Nguyễn Thị Bích N1; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax là tài sản của Nguyễn Thị N2; 01 chiếc điện thoại Iphone màu tím, 01 loa, 01 đèn laze và 01 máy tạo khói là tài sản của Trần Văn Q2 không liên quan đến hành vi phạm tội của Đỗ Thị Q1 và Chử Mạnh C nên Cơ quan Điều tra đã trao trả những đồ vật, tài sản này. H2, T1, H3, D1, N1, N2 và Q2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax, 01 chiếc túi xách, 01 loa màu đỏ trắng có dòng chữ JBL, 01 đèn chiếu sáng màu trắng trên bề mặt có dòng chữ THT.TAHOTO, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn, 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ cứng VietCredit là tài sản của Đỗ Thị Q1; 01 chiếc điện thoại di động Oppo A91 là tài sản của C đều được sử dụng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy; 01 tờ tiền 100.000 đồng, 01 tờ tiền 1.000 đồng, 01 tờ tiền 20.000 đồng là tài sản của Q2, 03 túi nilon dính tinh thể màu trắng thu giữ của C đều được dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy; 02 bình kim loại hình trụ và các quả bóng cao su nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật. Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSTT ngày 21/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Đỗ Thị Q1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, p khoản 2 Điều 251 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Chử Mạnh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đỗ Thị Q1, Chử Mạnh C theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong Cáo trạng. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c, p khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Đỗ Thị Q1 mức án từ: 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
hình sự đề nghị xử phạt Chử Mạnh C mức án từ: 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2023.
Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ
sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Áp dụng: Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
đề nghị:
- Đối với 13,489 gam MDMA và 12,389 gam Ketamine thu giữ của Q1;
0,147 gam MDMA thu giữ của C; 0,030 gam Ketamine thu giữ của Q2 còn lại sau giám định đều là chất độc hại cấm lưu hành; 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng Vietcredit, 03 túi nilon, 02 bình kim loại hình trụ màu xanh và vàng cùng các quả bóng cao su được sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng; 01 chiếc túi xách màu nâu của Q1 không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000
đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Oppo A91 màu đen tím của C; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax, 01 loa màu đỏ trắng có dòng chữ JBL, 01 đèn chiếu sáng màu trắng đều được sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Truy thu đối với Chử Mạnh C 5.000.000 đồng số tiền thu lời bất chính.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện
Thanh Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản kiểm tra hành chính, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 03 giờ 00 phút ngày 08/02/2023, tại phòng trọ của Đỗ Thị Q1 ở Phòng 603 nhà số 4 ngách 29 ngõ 634 Đường K thuộc xã T, huyện T, Hà Nội, khi Q1 vừa bán ma túy, đồng thời cung cấp công cụ và xào ma túy để tổ chức cho Phạm Ngọc T4, Ngô Thế D1, Lương Thanh H2 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị tổ công tác Công an xã T – Công an huyện Thanh Trì kiểm tra, phát hiện và bắt giữ. Quá trình kiểm tra, tổ công tác còn phát hiện và thu giữ trong túi xách màu nâu của Q1 có 14,756 gam MDMA và 12,772 gam Ketamine là ma túy được Q1 cất giấu để bán kiếm lời. Trước đó, khoảng 00 giờ ngày 09/01/2023, tại khu vực sảnh chung cư 43 L, phường N, quận T, Hà Nội, Chử Mạnh C đã bán 24.000.000 đồng ma túy loại Ketamine cho Đỗ Thị Q1. Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của C tại thôn 1, xã Đ, huyện T, Hà Nội đã phát hiện và thu giữ 0,214 gam ma túy loại MDMA là ma túy C cất giấu để bán kiếm lời. Hành vi của Đỗ Thị Q1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, p khoản 2 Điều 251 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Chử Mạnh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. [3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 3.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. 3.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép, người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Điều này chứng tỏ các bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo và xét các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên
không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax là tài sản của Lương Thanh
H2, 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro màu vàng là tài sản của Phạm Ngọc T4; 01 chiếc điện thoại Iphone XS max của Trần Thị Thanh H3; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen là tài sản Ngô Thế D1; 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax là tài sản của Nguyễn Thị Bích N1; 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax là tài sản của Nguyễn Thị N2; 01 chiếc điện thoại Iphone màu tím, 01 loa, 01 đèn laze và 01 máy tạo khói là tài sản của Trần Văn Q2 không liên quan đến hành vi phạm tội của Đỗ Thị Q1 và Chử Mạnh C nên Cơ quan Điều tra đã trao trả những đồ vật, tài sản này. H2, T4, H3, D1, N1, N2 và Q2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì.
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự xử lý đối với các vật chứng còn lại:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 13,489 gam
MDMA và 12,389 gam Ketamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Thị Q1.
- 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng Vietcredit là công cụ để sử dụng
ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng thu giữ của Q1; 01 tờ tiền mệnh giá
1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng thu giữ của Q2 được các đối tượng dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,030 gam
Ketamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Trần Văn Q2.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,147 gam
MDMA, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Chử Mạnh C.
- 01 chiếc túi xách màu nâu thu giữ của Q1 được Q1 sử dụng để cất ma túy, Q1 khai túi xách đã cũ, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax, imei 352680941545157, imei 2: 352680941302484 thu giữ của Q1 được Q1 sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.
- 01 loa màu đỏ trắng có dòng chữ JBL, 01 đèn chiếu sáng màu trắng trên bề mặt có dòng chữ THT.TAHOTO thu giữ của Q1 được dùng để tổ chức sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung công.
- 01 chiếc điện thoại di động Oppo A91 màu đen tím thu giữ của C được C sử dụng liên hệ mua bán ma túy cho Q1 nên cần tịch thu sung công.
- 03 túi nilon dính ma túy thu giữ của C nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 bình kim loại hình trụ màu xanh và vàng cùng các quả bóng cao su được các đối tượng dùng để sử dụng bóng cười nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Truy thu đối với Chử Mạnh C 5.000.000 đồng số tiền thu lời bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [7] Án phí và quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH: 1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Q1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Chử Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 1.1. Áp dụng: điểm c, p khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Q1 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 17 (mƣời bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2023. 1.2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Chử Mạnh C 42 (bốn mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2023. 2. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. 3. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 13,489 gam
MDMA và 12,389 gam Ketamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Thị Q1 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 99 ngày 21/8/2023).
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 đĩa sứ, 01 thẻ
nhựa cứng Vietcredit, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Thị Q1. (Theo quyết định chuyển vật chứng số 99 ngày 21/8/2023).
- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone14 Promax imei
352680941545157 (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong)
- Tịch thu sung công 01 điện thoại OPPO A91 màu đen tím (đã qua sử
dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
- Sung quỹ Nhà nước đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 bên trong 01
phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Thị Q1 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 99 ngày 21/8/2023).
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,050 gam
Ketamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Trần Văn Q2 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 99 ngày 21/8/2023)
- Sung quỹ Nhà nước đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền
mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng bên trong 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Trần Văn Q2 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 99 ngày 21/8/2023).
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,147 gam
MDMA, 03 túi nilon nhỏ, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Thị H5 (Theo quyết định chuyển vật chứng số 99 ngày 21/8/2023)
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi xách màu nâu.
- Tịch thu sung công 01 loa màu đỏ trắng có dòng chữ JBL, 01 đèn chiếu
sáng màu trắng trên mặt có dòng chữ THT TAHOTO.
- Tịch thu tiêu hủy 02 bình khi kim loại hình trụ màu xanh và vàng cũng
các quả bóng cao su.
Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện
Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/9/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
- Truy thu đối với Chử Mạnh C số tiền 5.000.000 đồng.
4. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333,
336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo. Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thanh Trì; - CA huyện Thanh Trì; - THADS huyện Thanh Trì; - Bị cáo; Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM: CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN THẮNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN THẮNG |