- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-7-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đắc Hân
Ông Bùi Đức Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; Nơi ĐKTT: Thôn L, xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Thôn 01, xã L1, huyện T1, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn N do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng vào ngày 17 tháng 5 năm 2017. Sau khi kết hôn, chị về chung sống cùng gia đình anh N ở thôn 6 (nay là thôn L), xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, căng thẳng nhất từ tháng 01 năm 2023 đến nay, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh N mải chơi, anh thường đi sớm về khuya, có khi hai, ba ngày anh N mới về nhà, không quan tâm đến cuộc sống gia đình. Chị đã góp ý nhưng anh N không tiếp thu sửa chữa, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình bố, mẹ hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 01 năm 2022 chị đã bỏ về cư trú cùng với bố mẹ đẻ chị ở thôn 1, xã L1, huyện T1, thành phố Hải Phòng. Từ khi chị bỏ đi đến nay, anh N không đến tìm chị, chị cũng không lần nào trở về chung sống cùng anh N. Từ tháng 01 năm 2022 đến nay, chị và anh N sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn N có một con chung là Nguyễn Thị Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017. Từ khi chị về nhà bố mẹ đẻ đến nay, cho chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không thăm nom con, cũng không cấp dưỡng nuôi con. Chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, về việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N để anh N đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên giải quyết việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn nhưng anh N đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã không chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn N hiện đang cư trú tại thôn L, xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17 tháng 5 năm 2017, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.
Tuy anh Nguyễn Văn N không đến Tòa án, nên không có quan điểm của anh N về việc chị Nguyễn Thị Txin ly h ôn, nhưng căn cứ lời khai của nguyên đơn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Xét quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T anh Nguyễn Văn N có một con chung là Nguyễn Thị Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017. Chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Anh N không có quan điểm về con chung. Xét thấy, hiện tại chị T và anh N đều là công nhân nên khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị T và anh N như nhau. Con chung Nguyễn Thị Q còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, hiện tại con chung đang chung sống cùng chị T đã ổn định. Nên để đảm bảo quyền lợi cho con chung cần giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Văn N không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Văn N không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Văn N không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, khi nào các đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Văn N không có quan điểm về vấn đề tài sản. Nên Tòa án không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản, khi nào các đương sự có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị Nguyễn Thị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008535 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THA DS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã H, huyện T1, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 17 tháng 5 năm 2017); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Minh Huế |