vanban.org

Bản án 143/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN GIỮA BÀ TRẦN THỊ KIM P VÀ ÔNG DƯƠNG THANH P"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/3/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Phúc Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

2. Ông Trần Đức Nhì

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân

Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Anh Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 590/2022/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-HPT ngày 03 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1999

Địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đ (có mặt).

- Bị đơn: Ông Dương Thanh P, sinh năm 1996

Địa chỉ thường trú: 925 đường H, Phường C, Quận S, Thành phố Hồ Chí

Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 04/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án

nguyên đơn là bà Trần Thị Kim P trình bày: Bà và ông Dương Thanh P có mối quan hệ quen biết từ năm 2018 và về chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà thuê, không có tổ chức lễ cưới. Sau đó bà và ông P dọn về nhà mẹ ruột của bà P ở Đồng Nai sinh sống, hai bên đăng ký kết hôn sau khi bà P sinh con. Từ khi con được 01 tháng tuổi ông P đã bỏ về nhà mẹ ruột tại Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, bà đã nhiều lần tìm cách liên hệ với ông P nhưng không được, ông P không quan tâm đến vợ, con, thậm chí không cấp dưỡng nuôi con. Bà xác nhận vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc và chia sẻ với nhau về mọi vấn đề trong cuộc sống. Bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn ông Dương Thanh P. Bà và ông P có với nhau 01 con chung tên Dương Trần Bảo N, sinh ngày 21/4/2019. Khi ly hôn bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không có; vợ chồng không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn ông Dương Thanh P đã được Tòa án nhiều lần triệu tập đến

Tòa để trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn nhưng đều cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các

ý kiến đã trình bày. Bị đơn ông P vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà Trần Thị Kim P và ông Dương Thanh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P được ly hôn với ông P. Về con chung: Giao con chung tên Dương Trần Bảo N, sinh ngày 21/4/2019 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim P thực

hiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là bà Trần Thị Kim P đối với bị

đơn ông Dương Thanh P có nơi cư trú tại Quận 6 nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án.

. Bị đơn ông Dương Thanh P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai

mà vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim P và ông Dương Thanh P

phát sinh từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp.

. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Theo nguyên đơn bà Trần Thị Kim P trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là

do từ sau khi bà P sinh con được 01 tháng thì ông P đã không quan tâm, không có trách nhiệm với vợ, con. Ông P đã bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống, bỏ mặc bà và con ở lại với nhà mẹ ruột ở lại Đồng Nai, thời gian vợ chồng ly thân đã lâu và bà P xác định không còn tình cảm với ông P nữa và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Phía bị đơn ông Dương Thanh P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải

quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng

có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua lời trình bày của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà P, ông P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông P không có trách nhiệm với vợ, con, thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, hai bên không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau, cùng vun đắp cho cuộc sống gia đình. Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng bà P và ông P hàn gắn tình cảm, trở về đoàn tụ cũng như để lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của ông P nhưng ông đều vắng mặt không lý do, do vậy Tòa án không tiến hành ghi nhận lời khai, hòa giải được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà P và ông P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.

. Về con chung: Bà Trần Thị Kim P và ông Dương Thanh P có với

nhau 01 con chung tên Dương Trần Bảo N, sinh ngày 21/4/2019. Khi ly hôn bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi con tròn 01 tháng tuổi thì ông P đã bỏ đi nơi khác sinh sống, trẻ Nhi được bà P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ đó cho đến nay, ông P không có liên hệ, quan tâm hay cấp dưỡng nuôi con là thể hiện sự thiếu trách nhiệm của người cha trong việc nuôi dạy con. Hơn nữa qua kết quả trả lời xác minh về tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đ xác nhận “Nếu trong trường hợp ly hôn, giữa bà P và ông P thì bà P là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng và giáo dục con tốt hơn”. Vì lợi ích về mọi mặt của trẻ, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Dương Trần Bảo N, sinh ngày 21/4/2019 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Kim P xác định không có,

không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim P phải chịu án phí dân sự

sơ thẩm theo quy định của pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Kim P và ông Dương Thanh P

được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 4 Điều 147, Điều 150, Điều 189 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và

Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim

P đối với ông Dương Thanh P.

2. Về con chung: Bà Trần Thị Kim P và ông Dương Thanh P có 01 con

chung tên Dương Trần Bảo N, sinh ngày 21/4/2019.

Giao trẻ Dương Trần Bảo N cho bà Trần Thị Kim P trực tiếp nuôi cho đến

khi thành niên.

Ghi nhận việc bà Trần Thị Kim P không yêu cầu ông Dương Thanh P cấp

dưỡng nuôi con.

Ông Dương Thanh P có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống

chung với bà Trần Thị Kim P.

Ông Dương Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

cản trở.

Trường hợp ông Dương Thanh P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc

gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Trần Thị Kim P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Dương Thanh P.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi

người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Kim P xác định không có,

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim P phải chịu 300.000 (Ba trăm

nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm nộp án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0012555 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Kim P đã nộp đủ án phí.

5. Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2019 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện

T, tỉnh Đ cấp ngày 08/5/2019 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

6. Bà Trần Thị Kim P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án. Ông Dương Thanh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ