vanban.org

Bản án 143/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HTK 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 143/2022/HS-ST
Ngày: 17 – 5 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Ngọc Phƣơng

Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 108/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2022/HSST-QĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

HTK, sinh năm 1982 tại Lạng Sơn; thƣờng trú: Thôn LC, xã TT, huyện HL, tỉnh LS; tạm trú: tổ 9, khu phố CS, thị trấn LU, huyện BB, tỉnh BD; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông HVK, sinh năm 1959 và bà VTT, sinh năm 1960, vợ NTN, sinh năm 1984, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2022, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông NTĐ – Luật sƣ của Công ty TNHH một thành viên Sài Gòn Star thuộc Đoàn luật sƣ Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH một thành viên vận tải thƣơng mại và dịch vụ Trung Hƣng Phát; trụ sở: 139/40 đƣờng số 9, khu phố 5, phƣờng Linh Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông NCT, sinh năm 1970; chức vụ: Giám đốc, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị hại:

+ PNHP, chết ngày 27/3/2021.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông PQ, sinh năm 1973 và bà NTTS, sinh năm 1973; cùng thƣờng trú: Ấp SC, xã LG, huyện CM, tỉnh ĐN; chỗ ở: F11/21T tổ 2, ấp 6, xã VLA, huyện BC, Thành phố HCM, có mặt

+ NMĐ, chết ngày 29/3/2021.

Ngƣời đại diện hợp pháp:

Ông BVH, sinh năm 1966 và bà TTM, sinh năm 1971; cùng thƣờng trú: K1, thị trấn SĐ, huyện TVT, tỉnh CM,có mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông LNT, sinh năm 1985; thƣờng trú: B12B/3 ấp 2, xã VLB, huyện BC, Thành phố HCM, có yêu cầu giải xét xử vắng mặt.

+ Cháu NTN, sinh ngày 13/9/2013 và cháu NHV, sinh ngày 17/7/2016.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà PTTU, sinh năm 1998; thƣờng trú: K1, thị trấn SĐ, huyện TVT, tỉnh CM, vắng mặt.

- Ngƣời làm chứng: USS, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

HTK có giấy phép lái xe hạng C số xxxxxxxxxxxx do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/9/2016. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 27/3/2021, HTK điều khiển xe ô tô tải biển số: 51D - 309.05 lƣu thông từ hƣớng ngã tƣ cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ 550 trên đƣờng ĐT743C. Khi K điều khiển xe ô tô lƣu thông đến ngã ba Cửu Long thuộc khu phố Bình Đức 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, Bình Dƣơng thì Kiên chuyển hƣớng rẽ trái để vào đƣờng Nguyễn Du do thiếu chú ý quan sát, không nhƣờng đƣờng cho phƣơng tiện lƣu thông chiều ngƣợc lại đã va chạm với xe mô tô biển số: 59N2-191.33 do PNHP điều khiển phía sau chở NMĐ hƣớng từ ngã tƣ 550 về hƣớng cầu Ông Bố, đi đúng phần đƣờng dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: PNHP tử vong tại hiện trƣờng, NMĐ bị thƣơng nặng đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó gia đình xin đƣa về nhà, trên đƣờng đƣa về nhà thì Đ tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:

Hiện trƣờng là ngã ba Cửu Long giao nhau giữa đƣờng ĐT743C với đƣờng Nguyễn Du thuộc khu phố Bình Đức 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Đƣờng ĐT743C đƣợc trải nhựa phẳng, thẳng, có dải phân cách cố định ở giữa đƣờng chia thành hai chiều lƣu thông rộng 14 mét. Lấy phần đƣờng bên trái làm chuẩn hƣớng từ ngã tƣ 550 về hƣớng trạm thu phí Bình Hòa rộng 7 mét. Đƣờng Nguyễn Du rộng 9 mét có vạch sơn đứt quãng ở giữa đƣờng chia đƣờng thành hai chiều lƣu thông, lấy phần đƣờng bên trái làm chuẩn hƣớng từ ngã ba Cửu Long về hƣớng ngã tƣ Nguyễn Du.

Xe ô tô tải biển số: 51D-309.05 đỗ trên mặt đƣờng ĐT743C, đầu xe quay xéo chuyển hƣớng về đƣờng Nguyễn Du. Trục trƣớc bên trái xe ô tô cách mép đƣờng trái đƣờng ĐT743C là 2,20 mét và cách trụ điện số 18 là 7,10 mét. Trục sau bên trái xe ô tô cách mép đƣờng bên trái đƣờng ĐT743C là 4,70 mét và cách cột điện số 18 là 8,20 mét.

Xe mô tô biển số: 59N2-191.33 ngã nghiêng bên phải nằm trên mặt đƣờng cạnh đầu xe ô tô bên trái của xe ô tô tải, đầu xe hƣớng ra giữa đƣờng hơi xéo về trạm thu phí Bình Hòa. Trục bánh trƣớc xe mô tô cách trục bánh trƣớc bên trái xe ô tô tải là 0,30 mét và cách mép đƣờng bên trái đƣờng ĐT743C là 1,70 mét. Trục bánh sau xe mô tô cách mép đƣờng bên trái đƣờng ĐT743C là 1,10 mét và cách trục bánh trƣớc bên trái xe ô tô tải là 1,40 mét.

Nạn nhân P nằm chết trên mặt đƣờng Nguyễn Du tƣ thế ngửa, đầu nạn nhân quay về lề đƣờng bên trái đƣờng Nguyễn Du và cách lề đƣờng bên trái Nguyễn Du là 1,60 mét và cách cột điện số 18 là 4,70 mét.

Vết máu kích thƣớc 01 x 0,70, tâm vết máu cách mép đƣờng bên trái đƣờng Nguyễn Du là 3,40 mét và cách cột điện số 18 là 8,00 mét.

Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện:

Dấu vết để lại trên xe ô tô tải biển số 51D-309.05: Kính chắn gió phía trƣớc bể vỡ hoàn toàn kích thƣớc 0,80x1,85cm; phần đầu xe dƣới kính chắn gió phía trƣớc thụng móp kích thƣớc 1x0,48cm; cản trƣớc bể vỡ sút rời, đèn pha và đèn xi nhan bên phải bể vở sút rời.

Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 59N2-191.33: Gƣơng chiếu hậu hai bên bể vở sút rời; cụm đèn pha, đèn xi nhan, đồng hồ tốc độ bể vỡ sút rời; mặt nạ bể sút rời; yếm chắn gió hai bên bể sút rời; ốp nhựa hông trái bể vỡ sút rời; ốp nhựa hông phải bị bung; chắn bùn sau gãy rời; bánh sau biến dạng; yên xe bị rách; núm tay cầm bên trái sút rời, đầu tay phanh phải cong về sau; chắn bùn trƣớc bị bể; đèn hậu bị bể sút rời; ốp pô bể vỡ sút rời.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tử thi số 320/GĐPY ngày 01/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định: Bên ngoài nhiều vết sây sát da, tụ máu; Gãy nhiều xƣơng, xƣơng cánh tay, cẳng chân, xƣơng sƣờn; hai phổi dập rách rải rác; gan dập vỡ liên thùy, vỡ thùy phải; khoang ngực hai bên chứa 1500ml máu, ổ bụng chứa 500ml máu.

Nguyên nhân chết của nạn nhân PNHP do đa chấn thƣơng (dập rách hai phổi, vỡ gan, dập các mạc treo, quai ruột) chảy mất máu không hồi phục.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 260/GĐPY ngày 20/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

Nguyên nhân NMĐ chết do đa chấn thƣơng mức độ nặng, dập hai phổi, dập xuất huyết não lan tỏa, gãy biến dạng gối cẳng chân trái, gây shock đa chấn thƣơng không phục hồi sau điều trị, chết não lâm sàng dẫn đến tử vong.

Căn cứ Kết luận giám định số 209/GĐCH-PC09 ngày 08/7/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

Dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển số 51D-309.05 và xe mô tô biển số 59N2-191.33 là: Các dấu vết trƣợt xƣớc màu xanh, vỡ ở nắp ca-pô, ốp nhựa tản gió, ốp nhựa cản trƣớc, ốp nhựa đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu rẽ trái phía trƣớc và cong biến dạng thanh kim loại cản trƣớc xe ô tô tải biển số: 51D-309.05 có chiều từ phải qua trái, từ trƣớc về sau phù hợp với các dấu vết trƣợt xƣớc, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), vỡ ở ốp nhựa đầu xe, bửng, vè chắn bùn bánh trƣớc, ốp nhựa đuôi xe, bánh sau, cong biến dạng các chi tiết kim loại ở mặt trƣớc cổ xe và bên trái xe mô tô hai bánh biển số: 59N2-191.33 có chiều từ trƣớc về sau.

Cơ chế hình thành các dấu vết va chạm giữa các phƣơng tiện là: mặt trƣớc bên trái đầu xe ô tô tải biển số: 51D-309.05 va chạm mặt bên trái phần đầu xe và phần hông xe mô tô biển số: 59N2-191.33 (nhƣ mục I phần V) làm xe mô tô đổ ngã qua trái va chạm với mặt đƣờng tạo ra các dấu vết trên các phƣơng tiện.

Cáo trạng số 113/CT-VKS -TA ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo HTK về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo HTK từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo HTK và ông NCT là ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Vận Tải Thƣơng Mại và Dịch Vụ Trung Hƣng Phát đã bồi thƣờng tổng số tiền 100.000.000 đồng cho ông PQ là ngƣời đại diện hợp pháp của nạn nhân PNHP và bồi thƣờng tổng số tiền 100.000.000 đồng cho ông NVH là ngƣời đại diện hợp pháp của nạn nhân NMĐ. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông PQ, bà NTTS yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thêm 50.000.000 đồng; ông NVH, bà TTM yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thêm 90.000.000 đồng, bị cáo HTK đồng ý bồi thƣờng nên bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng số tiền trên cho ông Q, bà S; ông H, bà M.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU màu xanh, biển số: 51D-309.05 do bị cáo HTK điều khiển gây tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác minh đƣợc biết xe ô tô trên do Công ty TNHH Một thành viên Vận Tải Thƣơng Mại và Dịch Vụ Trung Hƣng Phát đứng tên trên giấy đăng ký xe nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại ông NCT là ngƣời đại diện theo pháp luật của công ty là có căn cứ.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu vàng đen, biển số: 59N2-191.33 do nạn nhân PNHP điều khiển xảy ra tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác minh đƣợc biết ông LNT, sinh năm: 1985; Nơi đăng ký HKTT: B12B/3, ấp 2, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông Tân đã bán lại xe mô tô trên cho ông PNHP nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả xe mô tô trên cho ngƣời đại diện hợp pháp là ông PQ là có căn cứ.

- Ý kiến của ngƣời bào chữa cho bị cáo HTK: Không có ý kiến đối với Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo K có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhƣ đã cùng chủ xe bồi thƣờng cho gia đình các bị hại, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phƣơng, có cha là ngƣời có công với cách mạng, gia đình các bị hại cũng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thƣờng thêm cho gia đình các bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử dƣới thấp nhất của khung hình phạt đƣợc áp dụng để bị cáo sớm có cơ hội trở về cuộc sống và đi làm bồi thƣờng cho gia đình bị hại.

- Ý kiến ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông NCT: Không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bỏ ra bồi thƣờng cho 02 gia đình bị hại, không yêu cầu bị cáo trả lại và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông LNT không có ý kiến gì và và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan Điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ và bản ảnh hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, lời khai của ngƣời làm chứng, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 27/3/2021, tại đƣờng ĐT743C thuộc khu phố Bình Đức 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, Bình Dƣơng, HTK điều khiển xe ô tô tải biển số: 51D-309.05 từ cầu Ông Bố về hƣớng 550, khi đến ngã ba giao nhau Kiên chuyển hƣớng rẽ trái vào đƣờng Nguyễn Du, không nhƣờng đƣờng ƣu tiên cho phƣơng tiện lƣu thông chiều ngƣợc lại nên đã va chạm với xe mô tô biển số: 59N2-191.33 do PNHP điều khiển phía sau chở NMĐ hƣớng ngƣợc làm bị hại P tử vong tại hiện trƣờng, bị hại Đ tử vong sau cấp cứu, xe mô tô và xe ô tô tải hƣ hỏng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, khi điều khiển xe, bị cáo không tuân thủ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, không nhƣờng đƣờng ƣu tiên cho phƣơng tiện lƣu thông chiều ngƣợc lại dẫn đến tai nạn làm chết hai ngƣời. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nƣớc về an toàn giao thông đƣờng bộ, tƣớc đi mạng sống của ngƣời khác, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng với bị đơn dân sự tự nguyện bồi chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho đại diện gia đình bị hại; đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phƣơng, có cha là ông Hoàng Văn Ký là ngƣời có công với cách mạng, tham gia tại chiến trƣờng Nghệ An và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thƣờng thêm cho gia đình các bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Ý kiến của ngƣời bào chữa cho bị cáo HTK là không cơ sở chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa ông PQ, bà NTTS yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thêm số tiền 50.000.000 đồng; ông NVH, bà TTM yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thêm 90.000.000 đồng, bị cáo HTK đồng ý bồi thƣờng số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

Đối với ngƣời đại diện hợp pháp của cháu NTN, NHV là bà PTTH, quá trình điều tra không xác định đƣợc bà H hiện đang cƣ trú tại đâu, đồng thời quá trình điều tra và tại phiên tòa ông NVH, bà TTM xác định bà H và bị hại Đ chung sống với nhau nhƣng không đăng ký kết hôn, bà H đã bỏ đi, để lại 02 con NTN, NHV cho ông H, bà M nuôi dƣỡng, ông H và bà M không biết hiện nay bà H sống tại đâu và làm gì. Do đó, nếu bà H có yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm cấp dƣỡng đối với 02 con NTN, NHV thì có quyền khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU màu xanh, biển số: 51D-309.05 do bị cáo HTK điều khiển gây tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác minh đƣợc biết xe ô tô trên do Công ty TNHH Một thành viên Vận Tải Thƣơng Mại và Dịch Vụ Trung Hƣng Phát đứng tên trên giấy đăng ký xe nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại ông NCT là ngƣời đại diện theo pháp luật của công ty là có căn cứ.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu vàng đen, biển số: 59N2-191.33 do nạn nhân PNHP điều khiển xảy ra tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác minh đƣợc biết ông LNT đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông T đã bán lại xe mô tô trên cho ông PNHP nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả xe mô tô trên cho ngƣời đại diện hợp pháp là ông PQ là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Các Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo HTK phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo HTK 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo HRK có trách nhiệm bồi thƣờng cho ông PQ, bà NTTS số tiền 50.000.000 đồng (năm mƣơi triệu đồng), bồi thƣờng cho ông NVH, bà TTM số tiền 90.000.000 đồng (chín mƣơi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) tiền án phí dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự; ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc Bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ