vanban.org

Bản án 143/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/9/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quanh H Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 143/2022/HS-ST
Ngày: 28 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Trịnh Ngọc Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2022/TLST - HS ngày 07 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 161/2022/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Bùi Quang H, sinh năm 1993, tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn X, xã L C, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh Tr, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Hà T, sinh năm 1968; vợ, con, tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2022 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người làm chứng:

+ Lâm Tấn H1, sinh năm 1996 (vắng mặt);

+ Lương Minh Q, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã L C, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quang H là đối tượng nghiện ma túy. Buổi sáng, ngày 09/9/2022, Bùi Quang H nhờ một người bạn tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) mua dùm 01 gói ma túy đá. Sau khi nhận được ma túy, H cất dấu vào túi quần phía sau. Đến lúc 18 giờ 05 phút cùng ngày, Bùi Quang H điều khiển xe ô tô biển số 49A-428.19 đến nhà nghỉ Hoàng Gia thuộc Khu 9, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đón khách tên Nguyễn Anh S thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 01 gói ny lon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy, được niêm phong ký hiệu: M), 01 xe ô tô biển số 49A-428.19, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng, 01 điện thoại Nokia màu đen và số tiền 1.100.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Phú tiến hành trưng cầu giám định mẫu vật được niêm phong ký hiệu: M. Tại Bản kết luận giám định số: 1924/KL-KTHS ngày 16/9/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1984 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số: 03/CT-VKSTP-ĐN ngày 05/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo Bùi Quang H, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày ý kiến luâ ̣n tô ̣i như sau:

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý mặt hàng cấm của Nhà nước; Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật nên giữ nguyên quyết định truy tố; cần phải có mức án phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo: Bùi Quang H mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được đựng 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong số 1924/KLGĐ-PC09 có dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là chất cấm lưu hành.

Đối với xe ô tô biển số 49A-428.19, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng, 01 điện thoại Nokia màu đen và số tiền 1.100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã trao trả chủ sở hữu.

Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên H1 có hành vi mua giúp Bùi Quang H ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1984 gam hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nội dung lời khai của những người tham gia tố tụng trong hồ sơ vụ án:

- Lời trình bày ý kiến, tranh luận của bị cáo: Bị cáo thừa nhận nội dung của Bản cáo trạng là đúng sự thật, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.]Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2.] Về trách nhiệm hình sự:

Xét về hành vi phạm tội: Bùi Quang H là đối tượng nghiện ma túy. Lúc 13 giờ 30 phút, ngày 09/9/2022, tại nhà nghỉ Hoàng Gia thuộc Khu 9, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Bùi Quang H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,1984 gam để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú phát hiện bắt giữ.

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình để nhận biết được hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ quản lý mặt hàng cấm của Nhà nước mà còn gây tác hại lớn đối với sức khỏe và nhân cách của con người, làm thiệt hại kinh tế của gia đình cũng như xã hội và là một trong những nguyên nhân nảy sinh của các loại tội phạm khác; gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét mà giảm nhẹ một phần cho mức hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tòa án mở phiên tòa công khai xét xử vụ án để xử lý hành vi phạm tội của bị cáo và để tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của công dân, góp phần phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong số 1924/KLGĐ – PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là chất cấm lưu hành nên cần tịch tiêu hủy là đúng pháp luật.

Đối với xe ô tô biển số 49A-428.19, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu trắng, 01 điện thoại Nokia màu đen, 1.100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.

Đối với vấn đề khác: Đối với đối tượng H1 mua giúp Bùi Quang H ma túy hiện chưa điều tra làm rõ được họ tên, địa chỉ. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí : Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ

thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 33, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/9/2022.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015;

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong số 1924/KLGĐ-PC09.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/12/2022 giữa Công an huyện Tân Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Quang H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ