vanban.org

Bản án 143/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 04/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L 20 (hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Văn L phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2022/HS-ST
Ngày: 04-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Chí

2. Bà Đặng Thị Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2022/HSST-QĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn L, sinh năm 1974; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi cư trú: Số 09, đường Tô Hiến Thành, phường 3, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Phạm Dưỡng, sinh năm 1922 (đã chết); con bà: Phan Thị Bửu, sinh năm 1927 (đã chết); gia đình có 06 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; vợ: Phạm Thị Thu Phương, sinh năm 1975, con: có 02 con sinh năm 1998 và 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2022 đến ngày 18/8/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại, hiện bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt

* Bị hại: Ông Mai Hữu Tr, sinh năm 1971 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của ông Mai Hữu Tr: Bà Bùi Thị Tân D, sinh năm 1974; anh Mai Anh T, sinh năm 2000; cùng trú tại: Số 82, đường Lê Đình Chinh, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn Quảng Hiệp, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn L là lái xe cho nhà xe Ba T có giấy phép lái xe hạng E do Sở giao thông vận tải Thành phố Hải Phòng cấp ngày 13/12/2018 có giá trị đến ngày 13/12/2023. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/6/2022, Phạm Văn L điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 di chuyển trên Quốc lộ 20 theo hướng Đ L – Di Linh. Khi đến Km 189 Quốc lộ 20 thuộc thôn Đại Ninh, xã N G, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì L điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 vượt xe cùng chiều phía trước đã lấn sang phần đường ngược chiều tông vào xe mô tô biển số 49V4

- 8262 do Mai Hữu Tr điều khiển đang lưu thông hướng Di Linh - Đ L. Hậu quả vụ tai nạn giao thông Mai Hữu Tr tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tử thi vụ tai nạn giao thông xác định nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là do Phạm Văn L điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 không chấp hành luật giao thông đường bộ, khi điều khiển xe vượt xe khác cùng chiều không đảm bảo an toàn lấn sang phần đường của xe ngược chiều gây ra tai nạn. Điểm đụng và vùng va chạm nằm hoàn toàn bên phần đường của xe mô tô biển số 49V4- 8262 do Mai Hữu Tr điều khiển.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, đại diện bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, CQĐT đã thu giữ : Xe ô tô biển số 49B – 00547 và xe mô tô biển số 49V4- 8262 cùng các giấy tờ liên quan, sau khi tiến hành khám nghiệm phương tiện CQĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra chủ xe ô tô biển số 49B – 00547 ông Nguyễn Đức T và gia đình Phạm Văn L đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả với số tiền 306.000.000đ (ba trăm lẻ sáu triệu đồng). Đại diện người bị hại bà Bùi Thị Tân D, ông Mai Anh T (là vợ và con của nạn nhân Mai Hữu Tr) đã nhận đủ số tiền trên, đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Tại bản cáo trạng số 127/CT - VKS ngày 05 tháng 9 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo: Phạm Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị áp dụng áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại: Không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Phạm Văn L lái xe cho nhà xe Ba T có giấy phép lái xe hạng E do Sở giao thông vận tải Thành phố Hải Phòng cấp ngày 13/12/2018 có giá trị đến ngày 13/12/2023. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/6/2022, Phạm Văn L điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 di chuyển trên Quốc lộ 20 theo hướng Đ L - Di Linh. Khi đến Km189 Quốc lộ 20 thuộc thôn Đại Ninh, xã N G, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 vượt xe cùng chiều phía trước đã lấn sang phần đường ngược chiều tông vào xe mô tô biển số 49V4 - 8262 do Mai Hữu Tr điều khiển đang lưu thông hướng Di Linh- Đ L. Hậu quả vụ tai nạn giao thông Mai Hữu Tr tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tử thi vụ tai nạn giao thông xác định nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là do Phạm Văn L điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 không chấp hành luật giao thông đường bộ, khi điều khiển xe vượt xe khác cùng chiều không đảm bảo an toàn lấn sang phần đường của xe ngược chiều gây ra tai nạn. Điểm đụng và vùng va chạm nằm hoàn toàn bên phần đường của xe mô tô biển số 49V4 - 8262 do Mai Hữu Tr điều khiển.

Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Văn L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 49B – 00547 là nguồn nguy hiểm cao độ do chủ quan, cẩu thả vượt xe khác cùng chiều không đảm bảo an toàn lấn sang phần đường của xe ngược chiều tông vào xe mô tô biển số 49V4 - 8262 do Mai Hữu Tr điều khiển đang lưu thông hướng ngược chiều, điểm đụng và vùng va chạm nằm bên phần đường của bị hại. Hậu quả vụ tai nạn giao thông Mai Hữu Tr tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương.

Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra bị cáo đã ra đầu thú và đã tác động đến gia đình, cùng với nhà xe Ba T tự nguyện bồi thường khắc phục cho phía gia đình bị hại số tiền 306.000.000đ và được phía bị hại viết đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo bị tạm giam từ ngày ngày 19/6/2022 đến ngày 18/8/2022 cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra nhà xe Ba T do ông Nguyễn Đức T làm chủ và gia đình bị cáo Phạm Văn L đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả với số tiền 306.000.000đ (ba trăm lẻ sáu triệu đồng). Đại diện người bị hại bà Bùi Thị Tân D, ông Mai Anh Tuấn đã nhận đủ số tiền trên, đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Xe ô tô biển số 49B – 00547 và xe mô tô biển số 49V4 - 8262 cùng các giấy tờ liên quan, sau khi tiến hành khám nghiệm phương tiện CQĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L 20 (hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ