vanban.org

Bản án 143/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
THÀNH PHỐ H
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143 /2022/HS-ST
Ngày 16 tháng 12 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh.

Bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Xà, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, thành phố H, xét xử sơ thẩmcông khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:156/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:175/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Huy C, sinh năm 1966; Con bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1967; Vợ: Dương Thị S, sinh năm 1990, con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Có mặt.

Bị cáo bị bắt từ ngày 08/10/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an thành phố H.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Xuân S, sinh năm 1986; Cư trú tại: Thôn L xã P, huyện M, thành phố H. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Chu Lý N, sinh năm 1987; Cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 08/10/2022, Nguyễn Văn T (là đối tượng nghiện ma túy), nhận được cuộc điện thoại của Nguyễn Xuân S, sinh năm 1986; trú tại: Thôn L, xã P, huyện M, thành phố H hỏi mua của T 500.000 đồng ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. T đồng ý bán ma túy cho S và hẹn S đến khu vực chợ C thôn N, xã N, huyện M để giao dịch. Khoảng 09 giờ cùng ngày, S đến địa điểm đã hẹn đưa cho T só tiền 500.000 đồng, T đưa cho S 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy có dòng kẻ, kích thước khoảng (1X2) cm, bên trong có chứa ma túy Heroine. Khi S vừa nhận gói ma túy thì bị Đội CSĐTTP về ma túy phối hợp cùng đội CSGT đường bộ số 12 – Công an thành phố H cùng Công an xã N, làm nhiệm vụ tại khu vự chợ Cá, xã N phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa về trụ sở cơ quan Công an để điều tra làm rõ hành vi phạm tội.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M đã ra lệnh khám xét khẩn cấp số 33/LKX-CQĐT và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T. Quá trình khám xét Cơ quan Điều tra đã thu giữ nhiều tang vật liên quan đến ma túy cùng các đồ vật tài sản khác.

Quá trình điều tra đã xác định, trước đó vào khoảng 14 giờ ngày 07/10/2022, Nguyễn Văn T còn bán cho Nguyễn Xuân S 01 (một) gói ma túy Heroinevới giá 500.000 đồng tại khu vực thôn Đ, xã T, huyện M.

Tang vật và vật chứng thu giữ của gồm:

- 01(một) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T cùng đối tượng Nguyễn Xuân S (Ký hiệu phong bì mẫu số 01)

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh xám, đã cũ của Nguyễn Văn Văn T

- 02 (hai) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T (Ký hiệu phong bì mẫu số 02, 03).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh đen, đã cũ của Nguyễn Văn T;

- 01 (một) hộp kim loại có nhãn Danisa;

- 05 mảnh giấy có dòng kẻ, đều có kích thước (4X4) cm;

- Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng NHNN Việt

Nam đang lưu hành.

Ngày 08/10/2022, cơ quan CSĐT- CA huyện M đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 450/QĐ-CQĐT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H giám định đối với mẫu vật nghi là ma túy trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 08/10/2022, tại Thôn N, xã N, huyện M, H. Tại Bản kết luận giám định số: 7177/KL-KTHS ngày 15/10/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự, CATP H kết luận:

Niêm phong ký hiệu mẫu số 01 gồm: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy trắng có dòng kẻ là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,052 gam.

Niêm phong ký hiệu mẫu số 02 gồm:

+ Chất bột màu trắng bên trong 17 gói giấy trắng có dòng kẻ đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 2,330 gam.

+ Các cục chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilong màu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 11,869 gam.

Niêm phong ký hiệu mẫu số 03 gồm: 01 (một) dao lam màu bạc có chữ CROWN và 01 (một) cân điện tử màu đen, hình chuột máy tính có chữ MOUSE SCALE có dính ma túy loại Heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai trong hai ngày 07 và 08/10/2022, T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh đen đã cũ để liên lạc mua bán ma túy với Nguyễn Xuân S.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Văn T khai: Tối ngày 05/10/2022, T mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi ở khu vực thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, thành phố H với giá 8.000.000 đồng. Ngoài lời khai của T không có chứng cứ gì khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với Nguyễn Xuân S người mua ma túy của T với mục đích sử dụng cho bản thân. Ngày 08/10/2022, Khi S nhận ma túy mua của T thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của S đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 96/QĐ-XPHC ngày 24/11/2022, đối với Nguyễn Văn S; hình thức “Cảnh cáo”.

Về vật chứng: 01(một) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an thành phố H, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T cùng đối tượng Nguyễn Xuân S (Ký hiệu phong bì mẫu số 01); 02 (hai) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T (Ký hiệu phong bì mẫu số 02, 03); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh xám, đã cũ của Nguyễn Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh đen, đã cũ của Nguyễn Văn T; 01 (một) hộp kim loại có nhãn Danisa; 05 mảnh giấy có dòng kẻ, đều có kích thước (4X4) cm; Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng NHNN Việt Nam đang lưu hành, được chuyển đến Chi cục THADS huyện M để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.

Tại cơ quan CSĐT, Công an huyện M, Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại bản Cáo trạng số: 155/CT-VKS-CM ngày 28/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện M để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về lao động hòa nhập xã hội, nuôi con giúp đỡ gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn T từ 8 năm đến 9 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T cùng đối tượng Nguyễn Xuân S (Ký hiệu phong bì mẫu số 01);

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T (Ký hiệu phong bì mẫu số 02, 03); 01 (một) hộp kim loại có nhãn Danisa; 05 mảnh giấy có dòng kẻ, đều có kích thước (4X4) cm.

- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh đen, đã cũ thu của Nguyễn Văn T.

- Đề nghị tịch nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh xám, đã cũ thu của Nguyễn Xuân S.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng NHNN Việt Nam đang lưu hành, số tiền T bán ma túy cho S.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T nhận thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Trong hai ngày 07 và 08/10/2022, tại khu vực thôn N, xã N, huyện M, thành phố H, Nguyễn Văn T đã 02 lần bán trái phép ma túy loại Heroine cho Nguyễn Xuân S để thu lời bất chính. Cụ thể: Khoảng 14 giờ ngày 07/10/2022, Nguyễn Văn T đã bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine với giá 500.000 đồng cho Nguyễn Xuân S. Đến 09 giờ 00 phút ngày 08/10/2022, T bán cho S 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng thì bị Công an huyện M kiểm tra hành chính phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khám xét nơi ở của Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra còn thu giữ nhiều tang vật liên quan đến ma túy gồm: 17 gói giấy trắng có dòng kẻ đều là ma túy; các cục chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilong màu trắng đều là ma túy;01 (một) dao lam màu bạc có chữ CROWN và 01 (một) cân điện tử màu đen, hình chuột máy tính có chữ MOUSE SCALE, T khai là ma túy và công cụ chia nhỏ ma túy với mục đích để bán cho người nghiện có nhu cầu, thu lợi bất chính.

Tại Bản kết luận giám định số: 7177/KL-KTHS ngày 15/10/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự, CATP H kết luận:

Niêm phong ký hiệu mẫu số 01 gồm: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy trắng có dòng kẻ là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,052 gam.

Niêm phong ký hiệu mẫu số 02 gồm:

+ Chất bột màu trắng bên trong 17 gói giấy trắng có dòng kẻ đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 2,330 gam.

+ Các cục chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilong màu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 11,869 gam

Niêm phong ký hiệu mẫu số 03 gồm: 01 (một) dao lam màu bạc có chữ CROWN và 01 (một) cân điện tử màu đen, hình chuột máy tính có chữ MOUSE SCALE (ký hiệu mẫu số 03) có dính ma túy loại Heroine.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T, phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng Heroine là 14,251 gam theo quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Xuân S: Do S mua ma túy để sử dụng cho bản thânvới khối lượng Heroin là 0,052 gam, về nhân thân S chưa bị xử lý về các hành vi liên quan đến ma túy nên hành vi của S đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S với hình thức “Cảnh cáo” là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, đã bán ma túy cho T ở khu vực thị trấn V, huyện U, ngoài lời khai của T không có chứng cứ gì khác nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xâm phạm đến chính sách quản lý về ma túy, các chất hướng thần của Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Bị cáo hai lần bán ma túy, khối lượng Heroin bị cáo dùng để mua bán trái phép lớn (14,215 gam Heroin) vi phạm vào điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hính sự năm 2015. Bị cáo là người nghiện ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo;

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn T không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01(một) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố H, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị cáo Nguyễn Văn T cùng đối tượng Nguyễn Xuân S, chứa ma túy là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 (hai) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố H tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị cáo Nguyễn Văn T chứa ma túy là chất cấm lưu hành và công cụ chia nhỏ ma túy với mục đích để bán cho người nghiện là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) hộp kim loại có nhãn Danisa; 05 mảnh giấy có dòng kẻ, đều có kích thước (4X4) cm là vật liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh đen, đã cũ thu của Nguyễn Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xám, đã cũ thu của Nguyễn Văn S, theo các Biên bản có trong hồ sơ T và S đều xác định dùng điện thoại liên lạc mua bán ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) là tiền có được từ việc bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn đồng) T bán ma túy cho S ngày 7/10/2022 là tiền có được từ việc bán ma túy nên truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với Nguyễn Văn T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T: 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/10/2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T cùng đối tượng Nguyễn Xuân S (Ký hiệu mẫu 1); 02 (hai) phong bì dán niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Phạm Trần Nam, cán bộ Công an Đào Phi Hùng và bị can Nguyễn Văn T (Ký hiệu mẫu 2, 3); 01 (một) hộp kim loại có nhãn Danisa; 05 mảnh giấy có dòng kẻ đều kích thước (4X4) cm.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xám, đã cũ, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh đen, đã cũ, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2022 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M).

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 500.000 (Năm trăm nghìn đồng).

(Theo giấy nộp tiền ngày 01/12/2022 tại Kho bạc nhà nước huyện M).

- Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước 500.000 (Năm trăm nghìn đồng) đối với Nguyễn Văn T.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.

Cỡ chữ