- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Út - Diệp Văn Sang"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị U ly hôn với anh Diệp Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 143/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 5 - 2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.
2. Bà Trương Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Dau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 71/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị U, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Số 927 tổ 30, ấp MA, xã MP, huyện CP, tỉnh AG (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Diệp Văn S, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Ấp MA, xã MP, huyện CP, tỉnh AG (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/12/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị U trình bày:
- Về hôn nhân: Chị U và anh S tự tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã MP, huyện CP, tỉnh AG ngày 11/5/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; đến đầu năm 2021 thì chị U phát hiện anh S thường xuyên vay tiền bên ngoài để gửi cho người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị U khuyên ngăn nhưng anh S vẫn không thay đổi; vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 21/4/2021 cho đến nay. Nhận thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị U yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn anh Diệp Văn S vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Chị Lê Thị U giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn; vợ chồng không có con chung, không có nợ chung; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung. Chị U còn khai anh S sống không chung thủy.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị U ly hôn với anh S.
- Về con chung: Không có nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện CP, tỉnh AG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
[2.1] Chị U và anh S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MP, huyện CP, tỉnh AG ngày 11/5/2020 nên hôn nhân được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, chị U và anh S có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2021 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ghi nhận ý kiến, tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh S vắng mặt nên việc hòa giải đoàn tụ không thành; cho đến nay vợ chồng vẫn sống ly thân và không thể tự hàn gắn tình cảm.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên, giữa chị U và anh S đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị U ly hôn với anh S theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị U và anh S không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét; trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Anh S không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị U ly hôn với anh Diệp Văn S.
2. Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị U đã nộp theo biên lai thu số 0003483 ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP, tỉnh AG.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị U có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Diệp Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Châu Phú; - CCTHADS huyện Châu Phú; - UBND xã MP (khi có hiệu lực); - Lưu hồ sơ vụ án, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trương Thị Thu Thủy Nguyễn Hoàng Tuấn | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Chủ tọa phiên tòa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thẩm phán Nguyễn Duy Linh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |