vanban.org

Bản án 143/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 08/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong chứa vỏ gói niêm phong cũ, gói nilon không màu trong suất, vỏ gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng; 01 (một) bộ cóng tự chế t…

Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Trần Văn V, Mai Văn N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V và đồng phạm phạm tội Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong chứa vỏ gói niêm phong cũ, gói nilon không màu trong suất, vỏ gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng; 01 (một) bộ cóng tự chế t…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2021/HS-ST
Ngày: 08-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thường.

2. Ông Hồ Viết Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2021, đối với các bị cáo:

1, Họ và tên: Trần Văn V (tên gọi khác: không); sinh năm: 1994 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 13, xã QuL, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Th và bà: Nguyễn Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: từ ngày 06/4/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2, Họ và tên: Mai Văn N (tên gọi khác: không); sinh năm: 1994 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 13, xã QuL, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn Đ và bà: Nguyễn Thị H; vợ: Phan Thị H1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: từ ngày 06/4/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Văn Th, sinh năm 1961. Nơi cư trú: xóm 13, xã QuL, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Xuân S, sinh năm 1993. Nơi cư trú: xóm 13, xã QuL, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

1. Anh Hồ Sỹ B, sinh năm 1977. Vắng mặt.

2. Anh Hồ Bá S, sinh năm 1980. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05/4/2021, Trần Văn V và Nguyễn Xuân S đi uống nước có trao đổi về việc mua ma túy đá để sử dụng nhưng do không có tiền nên cả hai đi về. Đến khoảng 11h20 phút ngày 06/4/2021, Sơn dùng tài khoản Facebook “Sơn Sói” nhắn tin qua Messenger đến tài khoản Facebook “Trần Vương” của V hỏi “có tiền không để lên nhà lấy”, S trả lời chỉ còn 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để tối đi xe. Sau đó, S nhắn tin nói V gửi số điện thoại của Đ để S liên hệ mua ma túy, tuy nhiên do S đang ở nhà không tiện gọi điện thoại cho Đ nên S nói V liên lạc với Đ và lên nhà S để lấy tiền. Khoảng 12h09 phút cùng ngày, V sử dụng tài khoản Facebook “Trần Vương” nhắn tin đến tài khoản “Hong Nam” của Mai Văn N hỏi “làm khói không”, hiểu ý V hỏi sử dụng ma túy, N đồng ý nên V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37L2-328.98 đến đón N đi đến nhà S lấy 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau khi lấy được tiền, V sử dụng số điện thoại 0969.164.005 gọi đến số 0815.164.732 của người tên Đ hỏi mua ma túy, Đ hẹn V đến chợ Giát lấy ma túy. V chở N đi đến khu vực chợ Giát đưa cho Đ số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) rồi đi đến vệ đường cách 20m lấy gói nilong màu trắng chứa ma túy được bọc bên ngoài bằng giấy vệ sinh cầm trên tay đi thẳng về nhà Nam tại xóm 13, xã Quỳnh Lâm. Tại đây, V chia gói ma túy làm hai phần, một phần to và một phần nhỏ, N thấy V chia ma túy. V chụp ảnh gói ma túy có phần lớn hơn gửi kèm tin nhắn “Mua 400.000đ, được nhiều lắm” cho S. Nhận được tin nhắn của V, S hỏi V đang ở đâu để S đưa cóng đến, V nói S đến nhà N. S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37L1-395.93 cầm theo cóng đến nhà N. V đưa gói ma túy chứa phần ít hơn cho S cầm. Còn gói ma túy chứa phần nhiều hơn, V cất trên mũ cầm theo. Cả ba rủ nhau đến khu vực cầu Yên Chu thuộc xóm 14, xã Quỳnh Lâm lấy gói ma túy S cầm bỏ vào cóng và sử dụng. Đến khoảng 13h20 phút cùng ngày, cả ba bị tổ công tác Công an xã Quỳnh Lâm bắt quả tang, thu giữ của V 01 (một) túi nilong chứa các hạt tinh thể màu trắng được gói trong mảnh giấy vệ sinh màu trắng để trong mũ đội trên đầu của V, 01 (một) xe máy Honda Wawe@ màu đen bạc biển kiểm soát 37L2-32898 và 01 (một) điện thoại di động Oppo Reno màu đen; thu giữ của Sơn 01 (một) xe máy Yamaha Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 37L1-39593 và 01 (một) điện thoại di động Vivo V2026 màu xanh; thu giữ của N 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy S8+.

Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, trưng cầu giám định toàn bộ các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn V, Mai Văn N và Nguyễn Xuân S. Tại Kết luận giám định số 536/KL-PC09(Đ2-MT), ngày 09/4/2021, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn V, Mai Văn N và Nguyễn Xuân S gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 0,350 gam (không phẩy ba trăm năm mươi gam).

Ngày 07/6/2021, Công an huyện Quỳnh Lưu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Nguyễn Xuân S, phạt tiền 750.000 đồng (Quyết định số 133/QĐ-XPHC), S đã nộp phạt ngày 08/6/2021.

Bản cáo trạng số 140/CT-VKS-QL ngày 12/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo Trần Văn V và Mai Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 15-18 tháng tù, Mai Văn N từ 12-14 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong chứa vỏ gói niêm phong cũ, gói nilon không màu trong suất, vỏ gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng; 01 (một) bộ cóng tự chế từ chai nhựa dán mác nước tăng lực Lione, kèm theo 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào chai nhựa. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy S8+ của Mai Văn N, 01 (một) điện thoại di động Oppo Reno màu đen của Trần Văn V.

Án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn N, Mai Văn V khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để cải tạo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn V và Mai Văn N khai nhận: vào lúc 12h20 phút ngày 06/4/2021 các bị cáo đi mua ma túy về để sử dụng, khi về nhà N, Vương chia gói ma túy thành 02 gói, N biết việc Vương chia ma túy thành 02 (hai) gói, 01 (một) gói V cất vào mũ, 01 (một) gói đưa ra cùng sử dụng với Nguyễn Xuân S, thì bị Công an xã Quỳnh Lâm bắt quả tang tại khu vực cầu Yên Chu xóm 14, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Lời khai của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. V và N đã có hành vi mua ma túy Methamphetamine về để dụng, khi V chia gói ma túy ra thành hai phần, một phần sử dụng cùng với S, phần còn lại 0,350 gam (không phẩy ba trăm năm mươi gam) để cất dấu, N biết, nên đồng phạm với V. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền, thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn. Ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm suy kiệt kinh tế của mỗi gia đình, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội nên cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo V là người khởi xướng, tích cực thực hiện nên hình phạt phải cao hơn bị cáo N. Tuy nhiên cũng cần xem xét các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, xử phạt với mức như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Hình phạt bổ phải sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Xét các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong có chứa vỏ gói niêm phong cũ, gói nilon không màu trong suất, vỏ gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng; 01 (một) bộ cóng tự chế từ chai nhựa dán mác nước tăng lực Lione, kèm theo 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào chai nhựa; là vật các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. Điện thoại di động Samsung Galaxy S8+ của Mai Văn N, điện thoại di động Oppo Reno của Trần Văn V, được các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc phạm tội, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wawe@ màu đen bạc biển kiểm soát 37L2-32898 của ông Trần Văn Th, bị cáo V sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, ông Th không biết, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Th; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 37L1-39593 và 01 (một) điện thoại di động Vivo V2026 màu xanh của Nguyễn Xuân S không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả cho S; là đúng quy định pháp luật.

Về những vấn đề khác: Nguyễn Xuân S góp tiền mua ma túy để sử dụng cùng với bị cáo V, N, tuy nhiên khi V bớt lại cất riêng thì S không biết, S nghĩ số ma túy góp tiền mua chung đã được sử dụng hết nên không đồng phạm với N và V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, Nguyễn Xuân S bị Công an huyện Quỳnh Lưu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, là đúng quy định pháp luật. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của người bán ma túy cho các bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn V 14 (mười bốn) tháng tù, Mai Văn N 13 (mười ba) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 06/4/2021).

2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong bên trong chứa vỏ gói niêm phong cũ, gói nilon không màu trong suất, vỏ gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng; 01 (một) bộ cóng tự chế từ chai nhựa dán mác nước tăng lực Lione, kèm theo 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh được gắn vào chai nhựa. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy S8+ có số Imel1: 359116089552898, số Imel2: 359117089552896 của Mai Văn N, 01 (một) điện thoại di động Oppo Reno màu đen của Trần Văn V số Imel1: 864349049010990, số Imel2: 864349049010982. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2021 giữa Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu).

3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Trần Văn V, Mai Văn N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ