- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2021/HS-ST Ngày: 09-12- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Hưng
2. Bà Hà Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Mừng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Hảo – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2021/TLST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thanh B; sinh năm 1966
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm 4, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 07/10. Con ông: Phạm Danh D - đã chết. Con bà: Nguyễn Thị T - đã chết. Vợ: Dương Thị Nguyên; sinh năm: 1971; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm: 2001. Cùng trú tại: Xóm 4, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/10/1989, B bị Công an tỉnh Bắc Thái (nay là công an tỉnh Thái Nguyên) bắt về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản sau đó được trả tự do, đến nay chưa rõ hình thức xử lý.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2021 đến 03/9/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thùy L, sinh năm 2001 (có mặt)
Địa chỉ: xóm 4, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng: Ông Trần Đăng M, sinh năm 1956 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm 9, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 45 phút ngày 18/6/2021, tổ công tác Công an xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực cây đa đôi thuộc xóm 6, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ đã phát hiện 01 người đàn ông là Trần Đăng M (sinh năm: 1956, trú tại xóm 9, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ) đang điều khiển xe mô tô BKS 29- FA 4900 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu Trần Đăng M dừng lại để kiểm tra thì M chấp hành, đồng thời tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy màu vàng đang cầm ở tay trái và 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy màu vàng tại túi áo ngực bên phải M đang mặc. M khai là Heroine của M mua của Phạm Thanh B (sinh năm: 1966, trú tại xóm 4, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) với số tiền là 300.000đồng, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M, thu giữ và niêm phong vật chứng gồm: 03 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng, được gói bằng giấy màu vàng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Realme 5; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Cub BKS 29-FA 4900.
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ đã chuyển hồ sơ vụ việc, đối tượng, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ các tài liệu điều tra, xác M, hồi 16 giờ 10 phút ngày 18/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Trần Đăng M. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 18/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Phạm Thanh B. Kết quả khám xét thu giữ các đồ vật, tài liệu gồm:
- Tại phòng ngủ của Phạm Thanh B, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen, đã qua sử dụng bên trong có sim số thuê bao 00325.868.542 (Niêm phong vào phong bì ký hiệu B); 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo mầu đen, đã qua sử dụng bên trong có sim số thuê bao 0966.893.572 (Niêm phong vào phong bì ký hiệu C); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen, đã qua sử dụng bên trong không có sim (Niêm phong vào phong bì ký hiệu D); 02 dao tem nhãn hiệu CROMA; 02 vỏ túi nilong màu trắng KT 5x12cm; 02 vỏ túi nilong màu trắng KT 6x12cm, trên bề mặt những đồ vật trên có bám dính chất bột màu trắng nghi chất ma túy (Niêm phong vào phong bì ký hiệu E).
- Tại phòng bếp của Phạm Thanh B thu giữ 04 mảnh giấy bạc màu vàng, một mặt màu vàng, 01 mặt màu trắng cùng KT 03x03cm.
Hồi 18 giờ 45 phút ngày 18/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Đăng M có khối lượng là 0,088 gam. Lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Từ ra quyết định trưng cầu giám định số 158 ngày 19/6/2021 đối với phong bì ký hiệu A1 (vật chứng thu giữ của M) và đối với phong bì niêm phong ký hiệu E (vật chứng thu giữ của Phạm Thanh B, gồm: 02 dao tem, 02 túi nilon màu có KT 5x12 (cm); 02 túi nilon màu trắng có KT 6X12(cm) trên mép dao và túi nilon đều có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy).
Tại bản kết luận giám định số 1042/KL-KTHS, ngày 27/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng gửi giám định là: 0,088gam; Mẫu gửi giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu E có bám dính chất ma túy, loại Heroin.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thanh B, Trần Đăng M khai nhận như sau: Bản thân B là người nghiện ma nên khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/6/2021 B một mình từ nhà xuống khu vực TDP Sơn Hà, thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán cho người nghiện khác để kiếm lời. Tại đây, B gặp và mua của một nam thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroine với số tiền 300.000 đồng. Mua được Heroine B đi về nhà và lấy một phần ra sử dụng, phần Heroine còn lại B gói vào mảnh giấy bạc màu vàng rồi cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 18giờ 00 phút cùng ngày, B đang ở nhà thì có Trần Đăng M gọi điện thoại có số thuê bao0987 699 864 đến điện thoại di động có số thuê bao 0966.893.572 của B hỏi mua 100.000 đồng Heroine, B đồng ý. Một lát sau M đi xe máy đến cổng nhà B, M đưa cho B 100.000 đồng qua ô cửa sổ thứ 2 từ ngoài cổng vào phía bên tay phải nhà B, B nhận tiền và đưa lại cho M 01 gói heroine được gói bằng giấy màu vàng. M cất gói Heroinetại túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi về nhà.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18/6/2021 B một mình xuống khu vực TDP Sơn Hà, thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ để mua ma túy. Tại đây, B gặp một nam thanh niên không biết tên tuổi địa chỉ, B hỏi mua 300.000đồng ma túy thì người thanh niên đồng ý và cầm tiền rồi đưa lại cho B 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroine. Mua được Heroine B đi về nhà và lấy một phần ra sử dụng bằng hình thức hít, phần còn lại B gói thành 02 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng rồi cất vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc. Đến khoảng 8 giờ 50 phút cùng ngày, M tiếp tục gọi điện thoại cho B hỏi mua Heroine (gọi vào số thuê bao 0966.893.572), B đồng ý. M đi xe máy đến cổng nhà B, đưa cho B 200.000 đồng qua ô cửa sổ. B nhận tiền rồi đi vào trong nhà, khoảng 02 phút sau quay ra đưa lại cho M 02 gói Heroine được gói bằng giấy màu vàng. M nhận 02 gói heroine, cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về, khi về đến cây đa đôi thuộc xóm 6, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ thì bị tổ công tác Công an xã Phú Xuyên phát hiện, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Ngoài ra, quá trình điều tra, B, M khai nhận, vào khoảng đầu tháng 6/2021B đã 02 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho M với giá 100.000 đồng /1 gói tại nhà B nhưng không nhớ chính xác thời gian.
Tại bản Cáo trạng số: 143/CT - VKSD ngày 12 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Phạm Thanh B về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự
Tại phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh B từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng pháp luật, không bị oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng Trần Đăng M nên có đủ cơ sở xác định: Phạm Thanh B là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy bị cáo đã có nhiều lần bán trái phép ma túy (Heroin) cho các đối tượng khác để kiếm lời. Trong các ngày 17 và ngày 18/6/2021 tại nhà ở của Phạm Thanh B thuộc xóm 4, xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, B đã bán ma túy cho Trần Đăng M các lần cụ thể:
Lần 1: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17/6/2021, B đã bán cho Trần Đăng M 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 18/6/2021 B tiếp tục bán cho Trần Đăng M 02 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo B khai vào khoảng đầu tháng 6/2021(tại phiên tòa bị cáo xác định đầu năm 2021) B đã 02 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho M với giá 100.000 đồng /1 gói/lần tại nhà B nhưng không nhớ chính xác thời gian.
Người làm chứng Trần Đăng M xác định đã mua ma túy (Heroin) của bị cáo B 4 lần với tổng số tiền 500.000đ về sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 1042/KL-KTHS, ngày 27/6/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng gửi giám định là: 0,088 gam; Mẫu gửi giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu E có bám dính chất ma túy, loại Heroin.
Hành vi nêu trên của Phạm Thanh B đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Thanh B về tội danh và hình phạt theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
b) phạm tội 02 lần trở lên”.
. Xét về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Xét về tính chất hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất an ninh, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng. Như chúng ta biết ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng nó làm cho con người lệ thuộc vào nó, làm cho con người mất nhân cách và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Chính vì thế nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
. Xét tình tiết tiết giảm nhẹ TNHS thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo từng bị bắt về hành vi Công nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng sau đó được thả tự do, đến nay chưa rõ hình thức xử lý, bị cáo người nghiện ma túy nên đây là tình tiết nhân thân cần xem xét trong quá trình nghị án.
. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian có như vậy mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, E; 04 mảnh giấy bạc màu vàng cùng KT 03x03cm;
- Buộc bị cáo phải nộp số tiền 500.000đ là tiền bán ma túy
- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen, đã qua sử dụng bên trong có sim số thuê bao 0325.868.542.
- Hoàn trả chị Phạm Thùy L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen, không có sim để đảm bảo việc thi hành án.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo mầu đen, đã qua sử dụng bên trong có sim số thuê bao 0966.893.572 thu giữ của bị cáo B.
. Về nguồn gốc số Heroine B bán cho M vào ngày 17 và 18/6/2021. B khai mua của hai người nam thanh niên không biết tên, địa chỉ ở khu vực TDP Sơn Hà, thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra do không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với Trần Đăng M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,088 gam chất ma túy, loại Heroine. Xét thấy M chưa có tiền án, tiền sự nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với M. Ngày 20/9/2021, Công an huyện Đại Từ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M về hành vi tàng trữ trái phép 0,088 gam chất ma túy, loại Heroine.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt bị cáo Phạm Thanh B 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2021 đến ngày 03/9/2021.
Về hình phạt bổ xung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo B.
* Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, E; 04 mảnh giấy bạc màu vàng cùng KT 03x03cm;
- Buộc bị cáo phải nộp số tiền 500.000đ là tiền bán ma túy.
- Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo mầu đen, đã qua sử dụng bên trong có sim số thuê bao 0966.893.572
- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen, đã qua sử dụng bên trong có sim số thuê bao 0325.868.542 thu giữ của bị cáo B để đảm bảo việc Thi hành án.
- Hoàn trả chị Phạm Thùy Linh 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 138/QĐ – VKS ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
* Về án phí: Bị cáo Phạm Thanh B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm nôp ngân sách nhà nước.
* Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện Đại Từ (3b); - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đại Từ; - Chi cục THADS huyện Đại Từ; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; NLQ; - Thông báo cho UBND xã; - Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Khánh |