- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 143/2020/HS-ST Ngày 18/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Lê Thị Chanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 145/2020/TLST-HS ngày 07/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2020/QĐXXST-HS ngày 08/9/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T, sinh ngày: 30/5/1978, tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ 4B, phố Hồng Hà, phường Tiến Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông
́ Nguyễn Văn Thu và bà Nguyễn Thị May (đều đã chết); bị cáo có 02 vợ, vợ thứ nhất là Lê Thị Hậu (đã ly hôn) vợ thứ hai là Hà Thị Huyền; bị cáo có 01 con. Tiền sự: Không.
Tiền án:
Ngày 26/9/2006, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội phá hủy công trình phương tiện quan trọng về An ninh Quốc gia; xử phạt 12 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản; xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Anh T phải chấp hành hình phạt chung cả ba tội là 06 năm tù (Chưa được xóa án tích).
Ngày 23/3/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chưa được xóa án tích).
Ngày 06/7/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 30/7/2010 Công an phường Thanh Miếu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Đã được xóa tiền sự).
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 11/6/2020 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 11/6/2020 tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu kiểm tra đối với Nguyễn Anh T đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện T đang cất giấu trong người 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. T khai nhận đó là Heroine của T cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân.
Về ngồn gốc ma túy Nguyễn Anh T khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết gặp ở đường dân sinh thuộc bản Co Sung, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu.
Căn cứ hành vi vi phạm của Nguyễn Anh T tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Anh T về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, xử lý.
Ngày 11/6/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành xác định khối lượng số cục chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Nguyễn Anh T được 0,22 gam, lấy 0,10 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T.
Tại kết luận giám định số 959 ngày 14/6/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,22 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra Nguyễn Anh T giữ nguyên lời khai như trong quá trình bắt giữ.
Bản cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 07/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 05 năm đến 06 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Nguyễn Anh T bắt ngày 11/6/2020, bên trong đựng 0,12 gam Heroine, mảnh nilon màu xanh, vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Nguyễn Anh T ngày 11/6/2020 kết quả Dương tính.
3. Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về hành vi: Ngày 11/6/2020, Nguyễn Anh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Về trách nhiệm hình sự: Nguyễn Anh T đã có 03 tiền án chưa xóa án tích cụ thể như sau.
Ngày 26/9/2006, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội phá hủy công trình phương tiện quan trọng về An ninh Quốc gia; xử phạt 12 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản; xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Anh T phải chấp hành hình phạt chung cả ba tội là 06 năm tù. Phần bồi thường dân sự Nguyễn Anh T chưa thi hành (Chưa được xóa án tích).
Ngày 23/3/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chưa được xóa án tích).
Ngày 06/7/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chưa được xóa án tích).
Do đó xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có.
Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Quá trình điều tra , xác minh và xét hỏi tại phiên toà thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy , không có tài sản riêng gì nên không áp dụng.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Nguyễn Anh T bắt ngày 11/6/2020, bên trong đựng 0,12 gam Heroine, mảnh ni lon màu xanh, vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Nguyễn Anh T ngày 11/6/2020 kết quả Dương tính, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Thờ i ha ̣n ta ̣m giam của bị cáo còn trên 45 ngày nên Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Nguyễn Anh T bắt ngày 11/6/2020, bên trong đựng 0,12 gam Heroine, mảnh nilon màu xanh, vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Nguyễn Anh T ngày 11/6/2020 kết quả Dương tính.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( Đã ký) Đỗ Như Khánh |