- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền; Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2020/HS-ST Ngày: 16-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hiệp.
Ông Võ Văn Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Vào ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở T a án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 157/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1968, tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh K H a; chỗ ở: Nhà trọ B, khu phố P, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn B (đã chết); và bà Nguyễn Thị Q (đã chết); có chồng là Ngô Văn T và có 03 con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 05/7/2019, bị Công an xã Phú Chánh (nay là phường Phú Chánh), thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Nhân thân: Ngày 24/6/2020, bị T a án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “ Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2020/HS-ST; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; đang bị giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có mặt.
2. Ngô Văn T, sinh năm 1969, tại An Giang. Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở: Nhà trọ B, khu phố P, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn N (đã chết); và bà Trần Thị N; có vợ là Nguyễn Thị L và có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Đỗ Minh Tr, sinh năm 1982, tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ô2, ấp C, xã P (nay là khu phố C, phường P), thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Đỗ Thị L, có vợ là Phan Mỹ D và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4. Nguyễn K, sinh năm 1992, tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Đội 14, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Chỗ ở: Nhà trọ Hồ Thị C, đường số 16, khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D và bà Tạ Thị Tuyết N; có vợ là Lương Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
5. Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1989, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp Ph, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở: Khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn An T (đã chết) và bà Nguyễn Lệ H; có vợ Võ Thị A và 01 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019 được trả tự do, thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tại ngoại cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Mỹ D, sinh năm 1983. Nơi cư trú: khu phố C, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người làm chứng: Trần Thị Huệ A, vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Nguyễn Thị L với Ngô Văn T là vợ chồng và có quen biết với Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Ngọc Hà. Khoảng 13 giờ ngày 20/12/2019, L, T, Tr, K, Đ và Hà đến quán cà phê Thùy L ở đường Huỳnh Văn Lũy, khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để ăn uống với nhau. Sau đó, L và T rủ Tr, K, Đ, Hà chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc bầu cua thì Tr, K, Đ, Hà đồng ý. L dùng 01 bộ bầu cua có sẵn tại quán Thùy L để chơi đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, L làm cái để Tr, K, Đ, Hà đặt tiền. T giúp L thanh toán tiền thắng thua cho người chơi. Khi chơi, số tiền mỗi ván người chơi đặt cược từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Cách thức chơi như sau: Người làm cái sử dụng 03 hột bầu cua bằng giấy (mỗi hột có 06 mặt, mỗi mặt in một hình gồm: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai) đặt trên một đĩa nhựa rồi úp lên trên đĩa nhựa một hộp giấy lắc rồi đặt xuống, người chơi sẽ đặt tiền vào các ô có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai trên một tấm bạt. Khi người chơi đặt tiền xong, người làm cái mở hộp giấy ra để xem kết quả thắng thua, nếu 01 trong 03 mặt ngửa của 03 hột bầu cua có in hình trùng với hình mà người chơi đặt thì người làm cái sẽ chung tiền cho người chơi bằng số tiền mà người chơi đã đặt, nếu 02 mặt ngửa của 03 hột bầu cua có in hình giống nhau và giống với hình người chơi đã đặt tiền thì người làm cái chung tiền cho người chơi theo tỷ lệ gấp đôi, nếu mặt ngửa của 03 hột bầu cua có in hình giống nhau và giống với hình người chơi đã đặt tiền thì người làm cái chung tiền cho người chơi theo tỷ lệ gấp ba. Ngược lại, mặt ngửa của 03 hột bầu cua có in hình không trùng với hình mà người chơi đặt thì người làm cái sẽ thắng số tiền mà người chơi đã đặt. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật gồm: 7.100.000 đồng; 3 bộ bầu cua đã qua sử dụng; 02 điện thoại di động của Nguyễn Thị L (01 điện thoại Nokia màu xanh; 01 điện thoại hiệu HTC, màu vàng); 01 điện thoại di động Nokia màu đen và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ-đen-bạc, biển số 67K1-110.XX của Ngô Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirus, màu vàng-đen-bạc, biển số 61U2-73XX của Đỗ Minh Tr; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen-tím và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh-đen-bạc, biển số 76F1-215.XX của Nguyễn K; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của Nguyễn Ngọc Hà (bút lục số 01-03).
Khi tham gia đánh bạc, số tiền các con bạc dùng để đánh bạc như sau: L dùng số tiền 1.300.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thua 400.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 900.000 đồng; Tr dùng số tiền 2.400.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thắng 30.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 2.430.000 đồng; K dùng số tiền 1.800.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thắng số tiền 400.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 2.200.000 đồng; Đ dùng số tiền 300.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thua số tiền 30.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 270.000 đồng; H dùng số tiền 1.300.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt H không thắng không thua, bị tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng.
Đối với Nguyễn Ngọc Hà, sau khi phạm tội đã chết nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định số 02 ngày 11/6/2020 đình chỉ đối với bị can Nguyễn Ngọc Hà.
Quá trình điều tra và tại phiên t a, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.
- Về các vấn đề khác của vụ án:
Ngày 16/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại tài sản cho các bị cáo do không liên quan đến hành vi đánh bạc cụ thể như sau:
+ Trả lại cho Ngô Văn T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen bạc biển số 67K1-110.XX.
+ Trả lại cho Nguyễn Tr K 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen-tím và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh đen bạc, biển số 76F1-215.XX.
+ Trả lại cho Nguyễn Thị L 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu HTC màu vàng.
+ Trả lại cho Nguyễn Ngọc Hà 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
+ Trả lại cho Đỗ Minh Tr 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng.
+ Trả lại cho Phan Mỹ D 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirus, màu vàng đen bạc, biển số 61U2-73XX.
Đối với số tiền 7.100.000 đồng và 03 bộ bầu cua đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển số vật chứng nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
Đối với chủ quán cà phê Thùy Linh, khi cơ quan công an tiến hành điều tra thì chủ quán đã sang quán lại cho người khác. Do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của chủ quán cà phê Thùy Linh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để xác minh, làm rõ xử lý.
-Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản cáo trạng số 163/CT-VKS-HS ngày 11/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt tiền: Các bị cáo Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
+ Về biện pháp tư pháp:
Đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 7.100.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 bộ bầu cua đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng.
Tại phiên t a, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên t a, các bị cáo Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ đã khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 20/12/2019, tại quán cà phê Thùy Linh thuộc khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Ngọc Hà đã có hành vi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền thì bị bắt quả tang thu giữ số tiền là 7.100.000 đồng. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, các bị cáo biết việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là một tệ nạn của xã hội, nó xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Hiện nay, tệ nạn đánh bạc trái phép vẫn c n diễn biến phức tạp trong cộng đồng dân cư; tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của nhân dân và hạnh phúc của nhiều gia đình, đánh bạc cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử phân tích vai tr của các bị cáo để thấy được tính chất, mức độ của từng bị cáo. Bị cáo L là người rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc nên bị cáo L là người cầm đầu. Bị cáo T tham gia phụ bị cáo L chung tiền thắng thua nên bị cáo T giữ vai trò là người giúp sức cho bị cáo L. Các bị các Tr, K, Đ khi được bị cáo L rủ chơi đánh bạc thì đồng ý tham gia nên các bị cáo Tr, K, Đ là người thực hành. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của từng bị cáo để răng đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiêm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên t a, các bị cáo T, Tr, K, Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo L thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Ngọc Hà đã chết vào ngày 22/5/2020 nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định số 02/QĐ-VKS-HS ngày 11/6/2020 đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Ngọc Hà là đúng qui định pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với số tiền 7.100.000 đồng là tiền của các bị cáo dùng đánh bạc nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Đối với 03 bộ bầu cua đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn K, Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Đánh bạc”
1. Về hình phạt:
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ trước đây từ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Tr 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
1.4 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn K 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng.
1.5 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
2. Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 7.100.000 (bảy triệu một trăm nghìn) đồng.
- Tịch thu tiêu hủy 03 (một) bộ bầu cua đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 151.20 ngày 18/6/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một; Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 26/12/2019)
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị L, Ngô Văn T, Đỗ Minh Tr, Nguyễn Tr K, Nguyễn Thanh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày T a tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ TH M TH M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Nhật Thanh |