- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thi H - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 12/9/2019 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Lê Thị H như sau:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số: 143/2019/HS-PT Ngày 15- 11- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thu Hoài
Ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: - Ông Phạm Văn Vững, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2019/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Lê Thị H, do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 12/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo: Lê Thị H, sinh năm 1958 tại thôn X, xã S, huyện A, thành phố Hải Phòng;
Nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh, giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Nguyễn Thị Đ; chồng Nguyễn Minh C ( đều đã chết). Bị cáo có 01 con; Tiền án, tiền sự: Chưa; bị tạm giữ từ 14 giờ 15 phút ngày 18/6/2019 đến 12 giờ 10 phút ngày 19/6/2019, hiện tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị H vì muốn có thêm thu nhập nên đã thỏa thuận với Nguyễn Thị V nếu có khách đến đặt vấn đề mua dâm, H sẽ gọi cho V đến tại nhà H ở thôn H, xã B, huyện H để bán dâm cho khách. V đồng ý. Khoảng 10 giờ ngày 18/6/2019, Lê Văn K cùng với Vũ Bá M sinh năm 1981 ở xã A, huyện H xuống nhà H. Kỳ đặt vấn đề về việc mua dâm cho một người. H đồng ý rồi gọi điện thoại cho V đến bán dâm. Khi V đến, Kỳ đưa cho H số tiền 300.000đồng. H cầm tiền, sau đó dẫn V và K vào trong gian nhà ngang của gia đình để quan hệ tình dục. Đến 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi V và K đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục thì bị tổ công tác Công an huyện H kết hợp Công an xã B phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số seri 1 là 359000796320038, số seri 2 là 359000096820037, gắn số thuê bao 0869806469 của H; 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh, số seri 1: 356940091587932, seri 2: 356943096587937 gắn số thuê bao 0396049743 của V; 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Kokoro.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 34/2019/HS - ST ngày 12-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a, b khoản 2 Điều 106, 136 Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội "Chứa mại dâm".
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo
theo quy định.
Ngày 18/9/2019 bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Về tội danh: Sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án xác định cấp sơ thẩm
đã xét xử bị cáo về tội: Chứa mại dâm, theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù bị cáo có thêm tình tiết mới ( con trai được tặng thưởng huy chương), tuy nhiên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên mức hình phạt 15 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị
cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 18/6/2019, Lê Thị H đã nhận của Lê Văn Kỳ 300.000 đồng và sử dụng gian nhà ngang của mình ở thôn V, xã B, huyện H, tỉnh Hải Dương làm địa điểm để cho Nguyễn Thị V và Lê Văn K thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi V đang bán dâm cho K thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chỉ làm ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hoá, mà còn xâm phạm đến trật tự trị an xã hội nên cần phải áp dụng mức phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy,bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình 01 huy chương chiến sỹ vẻ V hạng ba của anh Nguyễn Văn S ( con trai của bị cáo), nên bị cáo được hưởng thêm 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy có căn cứ chấp nhận 1 phần kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[ 4]Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[ 5]Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 12/9/2019 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với bị cáo Lê Thị H như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, 136 Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội "Chứa mại dâm".
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị H 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2.Về án phí: Bị cáo Lê Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án 15/11/2019./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở TP tỉnh Hải Dương; - TAND huyện H - Cơ quan điều tra Công an huyện H; - Bị cáo; - VKSND huyện H - Chi cục THADS huyệnH - Lưu tòa; Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã Ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |